Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 02/08/2010 07:00 (GMT+7)

Hai công nghệ nuôi tổng hợp hướng đến nghề nuôi trồng thủy sản bền vững ở Khánh Hòa

Công nghệ nuôi kết hợp cá mú với vẹm xanh, bào ngư và rong biển

1. Kết quả môi trường

Hầu hết các yếu tố môi trường nước trong các lồng ghép nằm trong ngưỡng cho phép. Giá trị BOD 3ở mức thấp chứng tỏ chất lượng nước tốt. So sánh giữa lồng nuôi ghép và lồng nuôi đơn thì hàm lượng oxy hòa tan ở lồng nuôi ghép cao hơn, BOD 3thấp hơn. Điều đáng chú ý là số lượng tế bào thực vật phù du ở lồng nuôi ghép thấp hơn rất nhiều so với lồng nuôi đơn (trung bình 5.472 tế bào/lít ở nuôi ghép so với 15.655 tế bào/lít ở nuôi đơn). Giá trị Chlorophyll a ở lồng nuôi ghép ở mức thấp, chứng tỏ hiệu quả lọc của vẹm trong mô hình nuôi ghép.

Mức độ phì dưỡng ở lồng nuôi ghép thấp, được thể hiện qua hàm lượng NO 3-N giảm thấp. Giá trị PO 3-4ở lồng nuôi ghép thấp nhất (0.069±0.04 mg/l) kế đến là điểm đối chứng (0,12±0,46 mg/l).

Tại môi trường đáy, hàm lượng N tổng số ở lồng nuôi ghép thấp nhất và biến động tương đối nhiều. Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kế (p< 0,0001, ANOVA test).

2. Kết quả tốc độ sinh trưởng:

Tốc độ sinh trưởng của cá mú trong lồng nuôi ghép nhanh hơn lồng nuôi đơn.

3. Hiệu quả kinh tế

Mô hình nuôi ghép mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nuôi đơn. Nuôi ghép lợi nhuận tăng thêm khoảng 21,23% so với nuôi đơn (trong khi giá trị đầu tư ban đầu chỉ tăng thêm 9%, tổng chi phí sản xuất tăng thêm 17,54%), được thể hiện cụ thể n sau:

Bảng 1. Hiệu quả kinh tế

Chỉ tiêu

Đv tính

Nuôi ghép

Nuôi đơn

Tổng đầu tư cơ bản

Tổng chi phí sản xuất

Doanh thu

Lợi nhuận

Lợi nhuận biên

Tỷ suất lợi nhuận

Đồng

Đồng

Đồng

Đồng

%

%

5.440.000

42.143.134

66.014.480

23.871.346

36,16

56,64

5.080.000

35.853.833

54.720.000

18.866.167

34,48

52,62

Lợi nhuận chủ yếu được mang lại từ đối tượng chính là cá mú. Giá thành sản xuất cá mú ở hai mô hình tương đương nhau và giá bán như nhau. Như vậy, sự gia tăng thêm lợi nhuận ở hình thức nuôi ghép một phần do bào ngư, rong sụn mang lại. Tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận biên của hình thức nuôi ghép cao hơn nuôi đơn. Trong cả hai hình thức nuôi thời gian hoàn vốn đầu tư rất ngắn (dưới 3 tháng), chứng tỏ hiệu quả của nghề nuôi biển "đầu tư ít, hiệu quả nhiều".       

Công nghệ nuôi kết hợp tôm hùm với rong sụn, vẹm xanh và bào ngư

1. Kết quả môi trường

Kết quả quá trình nghiên cứu cho thấy giá trị các yếu tố môi trường nước ở lồng nuôi ghép thấp hơn ở lồng nuôi đơn. Giá trị BOD 3cao nhất ở lồng nuôi đơn (1,02±0,26 mg/l), giữa điểm nuôi ghép và điểm đối chứng không khác nhau về giá trị trung bình (0,64 mg/L). Giá trị tổng chất rắn lơ lửng và Chlorophyll a ở lồng nuôi ghép thấp hơn đáng kể so với ở lồng nuôi đơn và điểm đối chứng. Giá trị tổng chất rắn lơ lửng ở lồng nuôi ghép là 9,06±4,74 mg/L, kể đến là ở điểm đối chứng 9,11±5,42 mg/L, cao nhất ở nuôi đơn 9,32±5,2 mg/L. Đối với giá trị Chlorophyll a thì ở lồng nuôi ghép là 1,89±1,96 (µg/L), điểm đối chứng 2,32±1,09 (µg/L), cao nhất ở nuôi đơn 3,82±5,05 (µg/L). Như vậy, có thể thấy hiệu quả lọc của vẹm xanh đối với việc làm giảm lượng chất lơ lửng và làm giảm thực vật phù du (biểu thị qua giá trị chlorophyll a). Tuy nhiên, sự khác nhau về giá trị các yếu tố môi trường ở lồng nuôi ghép, lồng nuôi đơn và điểm đối chứng không có ý nghĩa về mặt thống kê (ANOVA test, p>0,05).

Hàm lượng các muối dinh dưỡng trong môi trường nước ở lồng ghép có xu hướng thấp hơn ở lồng nuôi đơn và điểm đối chứng. Kết quả kiểm định cho thấy hàm lượng NO -3N giữa hai lồng nuôi không có sự khai thác có ý nghĩa (p>0,05, t-test), nhưng so với điểm đối chứng thì sự sai khác này có ý nghĩa (p = 0,002, ANOVA test). Như vậy, có thể thấy nuôi trồng thủy sản đã tác động đến môi trường.

Hàm lượng Nitrite ở khu vực nuôi rất thấp, thấp hơn 10 lần so với Tiêu chuẩn Việt Nam đối với chất lượng nước ven bờ (TCVN 5942-1995) và tiêu chuẩn ngành.

2. Kết quả sinh trưởng của tôm hùm

Tốc độ sinh trưởng của tôm hùm trong lồng nuôi ghép bao giờ cũng cao hơn lồng nuôi đơn.

3. Hiệu quả kinh tế

Doanh thu ở lồng nuôi ghép cao hơn lồng nuôi đơn là 31% và lợi nhuận cao hơn 1,3 lần (30%), được thể hiện cụ thể như sau:

Bảng 2. Hiệu quả kinh tế

Chỉ tiêu

Nuôi đơn

Nuôi ghép

Chi phí đầu tư ban đầu

Chi phí sản xuất

Doanh thu

Lợi nhuận (đồng)

Lợi nhuận biên (%)

Tỷ suất lợi nhuận (%)

Thời gian hoàn vốn (tháng)

6.150.000

20.505.506

32.592.000

12.086.494

37,08

58,94

3,91

7.160.000

28.010.411

42.395.500

19.295.729

42,84

74,95

3,02

Tuy doanh thu từ đối tượng tôm hùm lồng nuôi ghép và lồng nuôi đơn gần như tương đương, nhưng hiệu quả kinh tế của lồng nuôi ghép cao hơn và mức độ rủi ro cũng thấp hơn do được chia sẻ vào nhiều đối tượng nuôi. Thời điểm giá trị lợi nhuận cao nhất xác định được là tháng nuôi thứ 17. Từ tháng nuôi thứ 16, giá trị lợi nhuận cũng đã ở mức cao và gần tương đương với tháng nuôi thứ 17.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.