Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 16/01/2007 15:09 (GMT+7)

Góp ý về việc sử dụng các khái niệm “Khoa học và công nghệ” và “Khoa học công nghệ”

Khái niệm “khoa học” và “công nghệ”

1. Khoa học: Theo cách hiểu thông dụng và thống nhất: “Khoa học là kiến thức được hệ thống hóa rút ra từ quan sát, nghiên cứu và thực nghiệm được tiến hành nhằm xác định bản chất hay các nguyên lý về sự vật đang được nghiên cứu” (theo Webster’s New World College Dictionary” - 1996). Các tác giả cuốn từ điển này còn nói riêng về khoa học như là một ngành kiến thức.

Khi nói “khoa học”, trong nhiều trường hợp được hiểu là “khoa học tự nhiên”. Theo “Webster”, “Khoa học tự nhiên là kiến thức được hệ thống hóa về tự nhiên và thế giới vật chất (physical world), bao gồm động vật học, thực vật học, hóa học, vật lý học và địa chất học”.

Trường hợp khác, “khoa học” được hiểu là bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. “Khoa học xã hội”, theo “Webster”, là “sự nghiên cứu về con người sống với nhau thành các nhóm, các gia đình... và các thói quen, các hoạt động... của họ”. Để rõ hơn, ta hãy đọc thêm định nghĩa của “Webster” về khoa học xã hội xét như những ngành kiến thức: “Một số nghiên cứu như kinh tế học, khoa học chính trị, hay nhân học, đề cập cấu trúc của xã hội và hoạt động của các thành viên của nó”.

Ở Liên Xô trước đây, một số nhà nghiên cứu còn nói rằng hệ thống khoa học được chia thành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật (“Từ điển Bách khoa Liên Xô” do A. M. Prokhorov làm chủ biên xuất bản lần thứ tư, năm 1986). Trong “Từ điển Bách khoa Việt Nam” tập 2 xuất bản năm 2002, các tác giả viết: “Khoa học kỹ thuật: Tên gộp chung những khoa học cụ thể được hình thành trên cơ sở ứng dụng những tri thức lý thuyết của các khoa học cơ bản (cơ, lý, hóa, sinh, toán, kể cả khoa học xã hội) vào trong hoạt động thực tiễn, chủ yếu là sản xuất vật chất và dịch vụ bằng con đường tạo ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ thích hợp. Có thể kể ra các khoa học kỹ thuật (KHKT) như vô tuyến điện tử học (ứng dụng cơ học lượng tử), khoa hàng không vũ trụ (ứng dụng thiên văn học), điều khiển học (ứng dụng toán học, lôgic học)”.

Lưu ý rằng, vào khoảng năm 1985, ở nước ta, sau một thời gian tranh cãi, khái niệm “kỹ thuật” đã được chuyển thành “kỹ thuật - công nghệ” rồi cuối cùng là “công nghệ” với những lý do này khác về nội dung của hai khái niệm đó. Do sự đổi tên này, KHKT đã được đổi thành “khoa học công nghệ” trong khi theo “Từ điển Bách khoa Liên Xô” đã dẫn ở trên, thuật ngữ được sử dụng là “tekhnicheskii” (kỹ thuật) chứ không phải “tekhnologicheskii” (công nghệ).

2. Công nghệ: 20 năm về trước, khái niệm “công nghệ” được đồng nhất với “kỹ thuật”. Khái niệm này có nhiều nghĩa, nghĩa mà chúng tôi nói ở đây là nghĩa được hiểu trong cụm từ “khoa học và công nghệ”; nói rõ hơn, nghĩa trong chủ đề “khoa học và công nghệ phục vụ phát triển” được thảo luận rất nhiều trong nhiều diễn đàn và công trình nghiên cứu của Liên Hợp Quốc và UNESCO nói riêng từ sau Thế chiến II (hiện tại chúng ta tạm hiểu “khoa học” theo cách như vậy, nghĩa cụ thể sẽ trình bầy ở dưới).

Lưu ý rằng, “khoa học và công nghệ” trong tiếng Anh là “science and technology”, còn trong tiếng Pháp là “science et technique” và trong tiếng Nga là “nauka i tekhnika” chứ không phải “science et technologie” và “nauka i tekhnologya”. Đối với những người Pháp, từ “technologie” dùng để dịch “technology” của Anh bị chê là “franglaise” (tiếng Pháp - Anh hay tiếng Pháp lai Anh). Trong các văn bản lúc đầu của Liên Hợp Quốc, trong bản tiếng Anh nếu ghi là “technology” (theo nghĩa khi sử dụng cụm từ “science and technology”) thì trong bản tiếng Pháp là “technique”. Tuy nhiên, để tránh khó khăn cho người dịch, về sau người ta đã chấp nhận sử dụng tiếng Pháp - Anh, nghĩa là dùng “technologie” để dịch “technology”.

Cụ thể hơn về khái niệm “technology” (công nghệ) trong tiếng Anh thì theo từ điển “Webster” đã dẫn, từ này có các nghĩa:

a. Khoa học hay sự nghiên cứu về các kỹ thuật (hay “nghề” - arts) công nghiệp, các khoa học ứng dụng... (theo nghĩa này, một số tác giả đã dịch “technology” là “kỹ thuật học” hay “công nghệ học”).

b. Khoa học ứng dụng.

c. Một phương pháp, quá trình... dùng để xử lý (hay “tiến hành thao tác” - handling) một vấn đề kỹ thuật cụ thể (specific).

Theo chúng tôi, một cách gần đúng, ta có thể xem “technology” với nghĩa: a) là tương ứng với “khoa học kỹ thuật” hay “khoa học công nghệ” đã được sử dụng ở Liên Xô trước đây và cũng khá phổ biến ở ta một thời gian nào đó; b) tương ứng với sự ứng dụng các kiến thức khoa học nhằm những mục đích có ích cho con người, có nghĩa trong cụm từ “khoa học và công nghệ” đã nói ở một đoạn trên; c) là “công nghệ” theo nghĩa được hiểu ở nước ta trước khi từ “kỹ thuật” được đổi thành “công nghệ” (thí dụ “chemical technology” đã được dịch là “hóa công”).

Thông thường, khi nói đến “khoa học và công nghệ”, người ta hiểu “khoa học” là sự tìm kiếm kiến thức mới, còn “công nghệ” là việc sử dụng kiến thức mới đó vì những mục đích thực tế của con người. Ông J. Ladrière, nhà triết học người Bỉ, trong một công trình biên soạn cho UNESCO năm 1977, đã viết: “Ta có thể nói rằng khoa học có mục tiêu là sự tiến bộ của nhận thức, trong khi đó công nghệ có mục tiêu là sự biến đổi thực tại đã cho. Khoa học nhằm vào việc đạt được những thông tin mới về thực tại, còn công nghệ nhằm vào việc đưa thông tin vào những hệ đang tồn tại (là những hệ tự nhiên hay nhân tạo). Ông cũng lưu ý, “khoa học” và “công nghệ” mặc dầu là những hoạt động có quan hệ với nhau ngày càng mật thiết nhưng luôn luôn là những hoạt động khác nhau về bản chất. Ông viết: “Có tương tác rất mạnh giữa khoa học và công nghệ, sự tiến triển của khoa học một phần phụ thuộc vào sự tiến triển của công nghệ và ngược lại, nhưng khoa học và công nghệ không tiến đến hòa lẫn với nhau”.

Ông N. Sharif, nguyên Giám đốc Trung tâm chuyển giao công nghệ châu Á - Thái Bình Dương của ESCAP ở Bangalore (Ấn Độ), trong một công trình nghiên cứu ở tạp chí “TFSC” năm 1994 đã phàn nàn về việc các nhà làm kế hoạch đã đánh đồng “khoa học” với “công nghệ”. Ông viết: “Chúng ta thiếu một sự hiểu biết đầy đủ về công nghệ. Cái chúng ta không hiểu thì không thể dễ dàng quản lý một cách thích hợp. Các nhà ra quyết định ở các nước đang phát triển vẫn còn coi công nghệ như một cái hộp đen, và các nhà làm kế hoạch thì rất hay đánh đồng địa vị của “khoa học” với “công nghệ”. Khoa học có thể là một hàng hóa công cộng nhưng công nghệ thì rõ ràng là một mặt hàng có thể mua bán với một cái giá gắn với nó. Khoa học có thể là nguồn sản sinh ra công nghệ, nhưng chỉ riêng khoa học thì không dẫn đến tăng trưởng kinh tế và sự giàu có. Những khác biệt có thể nhòa đi, nhưng nói chung, chúng ta có thể thừa nhận là khoa học thường gắn với các khám phá, còn công nghệ gắn với các hàng hóa và dịch vụ. Và trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sử dụng công nghệ như một phương tiện để cạnh tranh”.

Dùng thế nào cho chính xác?

1. Khoa học và công nghệ là những hoạt động gắn bó với nhau ngày càng mật thiết nhưng không tiến đến hòa lẫn với nhau. Chúng luôn luôn khác nhau về bản chất. Khoa học là hoạt động tìm kiếm kiến thức mới (khám phá), còn công nghệ là hoạt động áp dụng kiến thức nhằm những mục đích có ích cho con người. Khoa học là hàng hóa công cộng, không trực tiếp dẫn đến sự giàu có. Công nghệ thì gắn với các hàng hóa và dịch vụ để mua và bán với một cái giá nào đó.

2. Khoa học theo nghĩa hẹp được hiểu là khoa học tự nhiên, theo nghĩa rộng thì còn bao gồm cả khoa học xã hội. Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu ở Liên Xô trước đây và đã từng được sử dụng khá thông dụng ở nước ta thì hệ thống khoa học được quan niệm là bao gồm 3 lĩnh vực: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật (hay khoa học công nghệ). Khoa học kỹ thuật chỉ những lĩnh vực hoạt động hình thành từ việc ứng dụng các kiến thức của khoa học cơ bản, tự nhiên cũng như xã hội.

3. Công nghệ trong tiếng Anh (technology) có những nghĩa khác nhau (xét những nghĩa liên quan đến vấn đề chúng ta đang quan tâm) có thể xem là gần đúng tương ứng với các khái niệm đã nói ở trên:

a. Khoa học kỹ thuật hay khoa học công nghệ theo cách hiểu của các nhà nghiên cứu ở Liên Xô và đã được sử dụng ở ta.

b. Khoa học ứng dụng hay sự ứng dụng kiến thức khoa học, là phần thứ hai trong toàn bộ hoạt động tìm kiếm và sử dụng kiến thức được gọi là “khoa học và công nghệ”.

e. Phương pháp, quá trình (quy trình),... dùng để xử lý, biến đổi,... một đối tượng kỹ thuật cụ thể.

Theo chúng tôi, do sự phổ biến rộng rãi của tiếng Anh trong ngôn ngữ khoa học, chúng ta nên hiểu khái niệm mà chúng ta đã quen gọi là “công nghệ” theo các nghĩa đã nói của “technology”, có nghĩa là thuật ngữ “công nghệ” nên được sử dụng ở ta có nhiều nghĩa như:

a. Phần hoạt động ứng dụng trong các hoạt động tìm kiếm và sử dụng kiến thức mà mọi người đã gọi là “khoa học và công nghệ” (science and technology).

b. Các phương pháp, quy trình,..., nói riêng là các bí quyết (know-how), dùng để biến đổi một đối tượng kỹ thuật cụ thể.

c. Các lĩnh vực ứng dụng hình thành từ việc áp dụng các kiến thức của khoa học tự nhiên cũng như xã hội.

Với cách hiểu trên và sự nhận thức về sự khác nhau về bản chất của các hoạt động được gọi là “khoa học” và “công nghệ”, chúng ta thấy ngay các khái niệm “thị trường khoa học và công nghệ” và “doanh nghiệp khoa học và công nghệ” là không đúng, vì chỉ có thể có “thị trường công nghệ” và “doanh nghiệp công nghệ” (nói đúng hơn là “doanh nghiệp dựa trên công nghệ” – technology - based firms) chứ không thể có thị trường và doanh nghiệp về khoa học - loại hàng hóa công cộng, không phải để mua và bán như công nghệ. Nếu chúng ta còn sử dụng thuật ngữ “khoa học công nghệ” thì có thể nói đến “doanh nghiệp khoa học công nghệ” như tác giả Nguyễn Quân đã nói. Tuy nhiên, mặc dù cách gọi đó là đúng đắn, ta không nên sử dụng vì nó không phải là phổ biến trên thế giới.

Cuối cùng, bạn đọc có thể hỏi: Tại sao vào khoảng năm 1985, ở nước ta, từ “kỹ thuật” đã được đổi thành từ “công nghệ” mà về thực chất không phải là sự thay đổi về nội dung của các từ đó? Là người đã được chứng kiến sự đổi tên đó, tôi xin kể lại như sau.

Đó là vào năm 1983, Tiểu ban nghiên cứu chiến lược và dự báo khoa học - kỹ thuật do Phó thủ Tướng Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Trưởng Tiểu ban đã tổ chức một cuộc thảo luận tại Sầm Sơn. Tổng kết mấy ngày thảo luận rất sôi nổi, Đại tướng đã nêu lên 2 vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu: Thứ nhất là khái niệm “công nghệ” và “kỹ thuật” và thứ hai là vấn đề quản lý khoa học và kỹ thuật. Mấy cuộc họp bàn về các khái niệm “công nghệ” và “kỹ thuật” đã được tổ chức không lâu sau đó nhưng không đi đến một sự nhất trí nào. Để “giải quyết” tình trạng này, từ đó, trong các văn bản từ Vụ Kế hoạch - Tổng hợp (anh Đinh Hoài là Vụ trưởng) phát đi, đã xuất hiện cụm từ “khoa học và kỹ thuật - công nghệ”. Sau một thời gian tiếp tục biến đổi, cuối cùng, vào khoảng năm 1985, cụm từ “khoa học và công nghệ” đã trở nên phổ biến. Các địa phương và giới truyền thông căn cứ vào các tài liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ cứ thế mà chép lại, nhiều khi còn viết là “khoa học công nghệ” (thiếu chữ “và”) chỉ trừ một số cơ quan cấp cao hơn Bộ Khoa học và Công nghệ. Có lẽ vì không chú ý đến sự thay đổi này, cho đến ngày hôm nay, vẫn có lúc sử dụng cụm từ “khoa học và kỹ thuật”, có khi viết là “khoa học - kỹ thuật” hay “khoa học kỹ thuật” (còn viết tắt là “KHKT”).

Chúng tôi không bàn luận về sự đổi tên trên đây nhưng nghĩ rằng Bộ Khoa học và Công nghệ nên sớm có một nhóm nghiên cứu để xác định một cách rõ ràng, dứt khoát các khái niệm cơ bản hàng ngày gặp phải trong công tác quản lý khoa học và công nghệ, có văn bản cụ thể và bảo đảm việc sử dụng thống nhất trong toàn quốc. Các khái niệm như vậy mà không xác định thì việc quản lý khoa học và công nghệ không thể tránh khỏi có sự lộn xộn và người điều hành công việc quản lý sẽ không rõ mình cần phải làm như thế nào. Người đọc rõ ràng là rất lúng túng, hoang mang khi đọc trên cùng một số của Tạp chí “Hoạt động Khoa học” hai thuật ngữ khác nhau được đưa ra để chỉ cùng một vấn đề được bàn cãi. Điều đó chỉ được lý giải vì nó cùng trong mục diễn đàn. Và có lẽ chính ở mục diễn đàn nên theo tôi nó cần được nghiên cứu, bàn thảo để đi đến một khái niệm, một thuật ngữ thống nhất.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.