Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 29/08/2005 15:00 (GMT+7)

Giảm tổn thất sau thu hoạch, giải pháp tăng gấp đôi lợi nhuận cho nông dân: Mới ở phòng thí nghiệm!

Không chỉ mất 3.000 tỷ đồng/năm vì TTSTH

Đối với lúa gạo, TTSTH của ta dao động trong khoảng 9 - 17%, thậm chí 20 - 30%, tuỳ từng khu vực và mùa vụ. Nghĩa là chúng ta mất khoảng 3.000 tỷ đồng/năm, số tiền lớn hơn tổng thu ngân sách của hầu hết các tỉnh hiện nay. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ TTSTH cao nhất. Năm 1999, khu vực này sản xuất gần 17 triệu tấn lúa, với mức thiệt hại 20%, nông dân mất 3 - 3,5 triệu tấn, tương đương sản lượng lúa của Cần Thơ và Sóc Trăng cộng lại. Cứ 1% TTSTH là ĐBSCL mất 7 triệu USD.

Đối với sản xuất rau quả, thu nhập của nông dân giảm từ 15 - 30% vì sản phẩm không được sơ chế, bảo quản, tiêu thụ kịp thời. Với gần 600.000ha, sản lượng khoảng 4-5 triệu tấn/năm, gồm nhiều loại cây ăn quả đặc sản nhưng năng lực chế biến chỉ đạt khoảng 200.000 tấn/năm (chiếm 2% sản lượng), còn lại được sử dụng dưới dạng tươi sống. Chính vì không có công nghệ chế biến nên thu hoạch không đúng độ chín là chuyện "cơm bữa" bởi việc này phụ thuộc rất nhiều vào thị trường, thời tiết. Quá trình thu hoạch chưa được cơ giới hoá, thiếu cách thu hoạch thích hợp với từng loại rau, quả dẫn đến đa tổn thương cơ học và độ thối rữa cao. Việc phân loại, sơ chế và vận chuyển không đảm bảo do thiết bị đóng gói kém; công nghệ bảo quản thiếu đồng bộ trong kiểm dịch, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật,… đã hạn chế đáng kể số lượng, phẩm cấp và sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam. So với gạo Thái Lan, giá trị gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn do công nghệ sấy thóc gạo của ta chưa phát triển, thóc thường phơi trên các sàn đất, bê tông hay trên đường rải nhựa nên độ rạn, gãy cao (~ 30%); tỷ lệ sạn, cát vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Vì thế giá gạo của ta thường thấp hơn gạo cùng phẩm cấp của Thái Lan 20 - 30USD/tấn... Cả ông Bạch Quốc Khang- Cục trưởng Cục Chế biến Nông-lâm sản và Nghề muối và bà Trần Thị Mai- Phó Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, đều chung nhận định: Để có được sự đồng bộ các khâu từ trước, trong và sau thu hoạch, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nông dân, nhà khoa học, nhà nước và doanh nghiệp để phát triển công nghệ bảo quản, chế biến như của Thái Lan và nhiều nước có nền nông nghiệp mạnh, có lẽ Việt Nam phải mất 15 đến 20 năm nữa… Nông dân ta đang thu hoạch, bảo quản với công nghệ thủ công, lạc hậu, các doanh nghiệp chế biến cũng trong tình trạng bi đát không kém. Theo thống kê của Viện Kinh tế nông nghiệp, hầu hết công nghệ của các doanh nghiệp chuyên chế biến nông - lâm sản đã qua 3 - 4 thế hệ; 73% số nhà xưởng tạm bợ, chắp vá; chỉ 1- 5% sản phẩm làm ra đạt chất lượng quốc tế; 8 - 15% số doanh nghiệp đăng ký chất lượng sản phẩm; 40% doanh nghiệp không có trình độ chuyên môn, tay nghề...

Công nghệ, mới dừng lại ở phòng thí nghiệm

Mỗi năm Nhà nước đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chế biến nông - lâm sản, trong đó có một phần không nhỏ dành cho công nghệ sau thu hoạch. Thế nhưng phần lớn các công trình này chỉ dừng lại ở… phòng thí nghiệm vì khó thích ứng và quá đắt với quy mô hộ gia đình. Nói cách khác, người nông dân chưa được thụ hưởng thành quả nghiên cứu về công nghệ sau thu hoạch. Kết quả khảo sát ở 13 tỉnh ĐBSCL của Đại học Cần Thơ, Đại học An Giang và Đại học Nông- lâm TP. Hồ Chí Minh từ năm 2002 đến nay cho thấy: 50% nông dân ở vùng này bán lúa tươi ngay sau khi thu hoạch, vì đầu tư một lò sấy công suất 1 - 1,5 tấn/mẻ tốn hơn 10 triệu đồng. Ở An Giang, Cần Thơ và Kiên Giang, những nơi có số lượng máy sấy lúa nhiều nhưng cũng chỉ có khoảng 10 - 15% sản lượng lúa được sấy. Ông Nguyễn Văn Phương, Phó giám đốc Sở NN&PTNT An Giang, thừa nhận: “Dù mạnh dạn cho nông dân vay vốn với lãi suất 0% trong vòng 3 năm để đầu tư lò sấy lúa và kết quả là lắp được 1.400 lò công suất từ 1 đến 25 tấn/mẻ nhưng cũng chỉ đáp ứng khoảng 35% sản lượng. Không phải nông dân không nhận thấy lợi ích của lò sấy, họ ngại vì tốn kém quá. Kiên Giang có sản lượng lúa xấp xỉ An Giang nhưng các doanh nghiệp thu mua chỉ dám nghĩ tới việc tạm trữ 50% sản lượng lúa hè thu năm 2005 đối với vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên vì cứ 1 tấn gạo tạm trữ phải cộng thêm lãi suất vay không dưới 2USD/tấn/tháng; nếu trữ lâu hơn, phẩm cấp gạo giảm, tổn thất còn lớn hơn. Ngay với doanh nghiệp thì việc bảo quản cũng khó khăn, nói gì đến nông dân?

Khi được hỏi về những thành tựu của Viện Cơ điện nông nghiệp&Công nghệ sau thu hoạch, một trong những đơn vị nghiên cứu nhiều về lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch, một cán bộ của Viện không nêu kết quả cụ thể mà thừa nhận: " Phần lớn các công trình nghiên cứu hiện nay chỉ nằm ở phòng thí nghiệm.Có những sản phẩm sấy giá rẻ, công nghệ chế tạo đơn giản thì lại khó kiểm soát chế độ sấy nên chất lượng sản phẩm thấp, hình thức, mẫu mã chưa mang tính công nghiệp; còn những giàn sấy hiện đại thì giá quá cao. Đành rằng người nông dân chưa thể bỏ ngay tập quán canh tác, bảo quản cũ, nhưng giúp họ tiếp cận và sử dụng thiết bị mới là trách nhiệm của các nhà khoa học".

Giảm tỷ lệ TTSTH, cách nào?

Ông Nguyễn Duy Lâm, Trưởng phòng Khoa học - Đào tạo và Hợp tác quốc tế (Viện Cơ điện nông nghiệp&Công nghệ sau thu hoạch) cho rằng, nước ta đang thiếu một hệ thống các nhà sơ chế, bảo quản rau, quả. Ở Malaysia , nhà nước bỏ tiền xây dựng rất nhiều nhà lạnh bảo quản cho từng vùng khác nhau, bao gồm tất cả các công đoạn từ rửa, phân loại, đo chỉ tiêu chất lượng, đóng gói,… trên dây chuyền hoàn toàn tự động. Còn ở Việt Nam, người nông dân phần lớn tự thu hoạch, bảo quản bằng một số chế phẩm hoá học nên chất lượng, mẫu mã giảm là điều đương nhiên.

Theo Cục Chế biến Nông- lâm sản và Nghề muối, để giảm TTSTH, cần đưa tỷ lệ cơ giới hoá đạp lúa trong cả nước đạt trên90%, tẽ ngô đạt 60%; nâng cấp hệ thống kho tàng, bảo quản lúa, ngô, cà phê,… để giảm tổn thất do nấm, mốc; ứng dụng thiết bị và công nghệ hiện đại trong sơ chế, bảo quản, xử lý, phân loại, bao gói rau - quả tươi.

Tất cả những điều này đều đúng và rất cấp thiết. Vấn đề là ai làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất. Chúng ta đã có hẳn một hệ thống các vụ, viện chuyên nghiên cứu về lĩnh vực này, hàng năm cũng có hàng loạt công trình được bảo vệ nhưng tại sao nông dân vẫn chưa tiếp cận được, vẫn chịu “mất mùa trong nhà" với tổn thất “phát khiếp”. Ở đây không thể không nói đến trách nhiệm của những nhà quản lý.

Nguồn: Báo Kinh tế Nông thôn, số 33 (467), 15/8/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Sách, Tri thức và Khát vọng phát triển đất nước
Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước là một trong những thông điệp của Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026. Việc đề cao mối quan hệ mật thiết giữa các giá trị này không chỉ là sự tiếp nối truyền thống hiếu học, mà còn xác lập vai trò quyết định của tri thức đối với sức mạnh tổng thể và sự phát triển bền vững của đất nước.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ 17, khóa VIII: Thống nhất các nội dung chuẩn bị cho Đại hội IX
Chiều ngày 16/4, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), Hội nghị Đoàn Chủ tịch Hội đồng Trung ương lần thứ 17, khóa VIII đã được tổ chức dưới sự chủ trì của đồng chí Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp Hội Việt Nam và đồng chí Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam.
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2024-2029
Căn cứ số lượng, cơ cấu thành phần Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam khóa X thông qua và tổ chức bộ máy của Ủy ban MTTQ Việt Nam theo mô hình mới. Ngày 12/4/2026, Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã hiệp thương cử nhân sự tham gia Ủy ban, Đoàn Chủ tịch và giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban TƯ MTTQ Việt Nam khóa X, nhiệm kỳ 2024-2029.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Lễ khai mạc Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152
Chiều tối 15/4, giờ địa phương, đêm cùng ngày giờ Việt Nam, tại Istanbul, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã dự Lễ khai mạc Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152 (IPU - 152) với chủ đề “Nuôi dưỡng hy vọng, bảo đảm hòa bình và bảo vệ công lý cho các thế hệ tương lai”.
Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX tổ chức phiên họp lần thứ nhất
Sáng ngày 16/4, Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031 đã tổ chức phiên họp lần thứ nhất, đánh dấu bước khởi đầu chính thức cho công tác tổ chức Đại hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Sáng 15/4, sau Lễ đón cấp Nhà nước tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã hội đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình.
Dấu ấn Mặt trận trong thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Thực hiện sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp và các quy định về quyền và trách nhiệm của MTTQ VN, MTTQ VN các cấp đã chủ động, tích cực, sáng tạo, linh hoạt phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đã tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 -2031, bảo đảm thời gian, đúng quy định của pháp luật.
Trung tâm SUDECOM khởi động dự án hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai
Ngày 7/4, tại tỉnh Lào Cai, Đoàn công tác của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tham dự Hội nghị triển khai dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo việc làm cho thanh niên cộng đồng các dân tộc miền núi tại tỉnh Lào Cai” của Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM).
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tiếp cận mới trong chăm sóc sức khỏe người trẻ
Sáng ngày 10/4, tại Trường Cao đẳng Bình Thuận, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Trường Cao đẳng Bình Thuận tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tác động của nhịp thở có kiểm soát lên biến thiên nhịp tim (HRV) và nồng độ Cortisol huyết thanh ở người trẻ”.
Vĩnh Long: Hội thi Trần Đại Nghĩa là "người dẫn đường" cho phong trào khoa học công nghệ của tỉnh
Trong bối cảnh toàn quốc đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (STKT) Trần Đại Nghĩa đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, từ khâu tuyên truyền đến hỗ trợ tác giả, nhằm tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngay tại cơ sở.
Đắk Lắk: Hướng đi xanh từ thủy sản và vỏ dứa
Từ những phụ phẩm tưởng chừng phải bỏ đi trong ngành thủy hải sản và chế biến hàng thủy sản, có một giải pháp kỹ thuật đã mở ra hướng đi mới: sản xuất phân bón hữu cơ sinh học giàu đạm, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững và giảm áp lực môi trường.