Giải thưởng Trần Văn Giàu về lịch sử và lịch sử tư tưởng
Nhưng có lẽ cũng chẳng cần phải ưu phiền nhiều làm gì. Thầy Giàu chắc không phải không biết điều đó. Ngày xưa Trần Hưng Đạo chỉ huy ba quân, ba lần đánh tan quân Nguyên, đội quân hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, xâm lược nước ta. Nguyên nhân của thắng lợi có nhiều, nhưng cũng không thể không nhắc đến một trong tư tưởng quân sự về “ít” và “nhiều” của vị tướng tài ba đó là “quý hồ tinh, bất quý hồ đà”. Có lẽ thầy Giàu còn cảm thấy điều đó không những đúng ở lĩnh vực quân sự mà còn đúng ở lĩnh vực khoa học chăng? Hãy cứ xem “cái tồn tại là cái hợp lý” đi, biết đâu thời thế thay đổi, đến lúc nào đó “cái hợp lý lại là cái tồn tại”. Đừng quên thầy Giàu từ lâu đã là tác giả của cuốn BIện chứng phápkia mà! Hơn nữa, cũng nên đặt Giải thưởng Trần Văn Giàu trong tương quan với tình hình nghiên cứu khoa học, sáng tạo của cả nước. Thật ra cả nước hiện nay đâu phải đã có nhiều công trình khoa học, sáng tạo gì nhiều đâu? Trong những công trình nghiên cứu đó, lịch sử tư tưởng lại càng ít ỏi hơn nhiều. Ấy vậy nhưng tại sao thầy Giàu vẫn muốn có giải thưởng về lịch sử tư tưởng?
Ai cũng biết thầy Giàu đâu phải chỉ là nhà sử học uyên bác, thầy còn là nhà tư tưởng, nhà triết học lỗi lạc. Khi còn là học sinh cấp II phổ thông ở vùng giải phóng Liên khu V, tôi đã say mê đọc tác phẩm Triết học phổ thông, Biện chứng pháp… của thầy và còn nhớ mãi đến bây giờ. Những công trình như Sự phát triển của tư tưởng Việt nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, Triết học và tư tưởng, Giá trị truyền thống của Việt Nam…Về lịch sử tư tưởng của thầy đã có ai vượt qua đâu? Thầy là một nhà tư tưởng lớn của Việt nam, tuy thầy vẫn khiêm tốn cho rằng nếu cần có một nhà triết học thì đó là Trần Đức Thảo chứ không phải Trần Văn Giàu ( Trần Đức Thảo – nhà triết học). Chẳng có gì là lạ khi một người suốt đời thăng trầm với lịch sử tư tưởng lại muốn có một giải thưởng về lịch sử tư tưởng. Cho dù nhân tình thế thái có thay đổi đến đâu đi nữa cũng không có ai có thể từ chối nguyện vọng thiên thu, không chỉ của thầy mà của cả vùng Nam bộ, của cả dân tộc.
Lịch sử tư tưởng hay lịch sử triết học, gọi thế nào cũng được. Bởi vì “lịch sử tư tưởng và lịch sử triết học về cơ bản là giống nhau. Lịch sử triết học thiên về phân tích quan điểm tiêu biểu của những nhà tư tưởng, còn lịch sử tư tưởng lại thiên về nghiên cứu quá trình thay đổi tư tưởng của tất cả mọi người” (Xem Từ điển Bách khoa mở Wikipedia).
Ngày xưa “văn, sử, triết bất phân”. Thiền uyển tập anh, Quân trung từ mệnh tập, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục…là sách sử nhưng đâu có loại trừ tư tưởng hay triết học. Gần đây thôi, vào những năm 50 – 60 thế kỷ thứ trước, tiền thân của tạp chí Nghiên cứu lịch sửcủa Viện Sử học vẫn còn là Tạp chí Văn, sử, triếtkia mà.
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, người đầu tiên chuyên bàn về lịch sử tư tưởng có lẽ là Lê Quý Đôn, với những tác phẩm như Quần thư khảo biện, Vân Đài loại ngữ, Dịch phu từng thuyết…
Ở Trung Quốc, những sách như Sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư, Tống sử…vừa là sử cũng vừa là tư tưởng. Chẳng hạn như trong Hậu Hán thưcó Văn uyển truyện, Tống sửcó Đạo học truyện… Người đầu tiên chuyên bàn về tư tưởng là Hoàng Tông Hy, cuối Minh đầu Thanh với tác phẩm Minh nho học án.Nếu ở Trung Quốc người đầu tiên sử dụng khái niệm “lịch sử tư tưởng” là Lương Khải Siêu ( Tiên Tần chính trị tư tưởng sử, 1923) thì ở Việt Nam có lẽ là thầy Trần Văn Giàu.
Như vậy là trong lịch sử đã có lịch sử tư tưởng rồi. Nếu nói không quá đáng thì 4 giải thưởng mà UBGTTVG đã trao, trong đó ít nhiều cũng đã có lịch sử tư tưởng. Từ điển Hu dong Baikegiải thích.
“Tư tưởng là đặc trưng cơ bản của con người. Tư tưởng bắt đầu và cùng kết thúc với con người. Tư tưởng là thước đo sự hình thành của con người. Có tư tưởng thì có con người, tách rời lịch sử tư tưởng khỏi lịch sử conngười thì lịch sử trở thành vô nghĩa. Cho nên lịch sử tư tưởng là linh hồn của lịch sử nhân loại”.
Nghiên cứu lịch sử vùng Nam bộ nghĩa là nghiên cứu lịch sử con người ở Nam bộ. Không hiểu lịch sử con người thì cũng không thể hiểu con người. Không hiểu lịch sử tư tưởng con người thì cũng không thể hiểu lịch sử con người. Lịch sử và lịch sử tư tưởng không phải là hai lĩnh vực hoàn toàn tách biệt, nhưng cũng không phải là đồng nhất. Cho nên cùng với giải thưởng về lịch sử có giải thưởng chuyên về lịch sử tư tưởng cũng là chuyện bình thường.
Vì sao cho đến nay vẫn ít có những công trình về lịch sử tư tưởng tham dự giải thưởng? “khó” cũng là một lý do, nhưng nói như vậy chẳng lẽ lịch sử lại “dễ” sao? Có lẽ chỉ vì chưa xác định rõ đối tượng, phạm vi của lịch sử tư tưởng đấy thôi. Thực ra trên đời, dưới đất ở đâu có con người thì ở đó có tư tưởng, đã có tư tưởng thì đương nhiên là phải có lịch sử tư tưởng. Cũng có người định nghĩa lịch sử tư tưởng (History of ideas) là “lịch sử của ý nghĩa” (History of meaning). Có nghĩa là sử dụng sử liệu chuyên về tư tưởng để xem xét con người gán cho tồn tại những ý nghĩa gì.
Cũng có những công trình chuyên khảo chung về lịch sử tư tưởng như Lịch sử tư tưởng Âu châu(Europaische Geistesgeschite) của Friedrich Heer, Lịch sử tư tưởng thế kỷ XX(The Modern mind) của P. Watson, Lịch sử tư tưởng Trung Quốccủa Hầu Ngoại Lư, Cát Triệu Quang… nhưng cũng có những công trình lịch sử tư tưởng chuyên ngành như lịch sử tư tưởng chính trị, lịch sử tư tưởng quân sự, lịch sử tư tưởng mỹ học, lịch sử tư tưởng tôn giáo… Thực ra lịch sử tư tưởng có xa vời gì lắm đâu? Nơi nào có con người thì nơi đó có tư tưởng kia mà! Cuối cùng cũng là để hiểu rõ hơn về đặc điểm của người Việt ở Nam bộ. Họ đã đấu tranh sinh tồn như thế nào và suy tư những gì về Trời, Đất và Con người, về hôm qua và mai sau. Cho dù có hơi xa một chút đi nữa thì “con đường vạn dặm cũng bắt đầu ngay ở dưới chân” (vạn lý chi trình thuỷ ư túc hạ) mà thôi.








