Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 27/02/2007 23:42 (GMT+7)

Giải pháp kỹ thuật khai thác tầng sâu Thác Lạc trong điều kiện địa chất thủy văn phức tạp

I. Khái quát tình hình và đặc điểm khu mỏ

Mỏ sắt Trại Cau là một đơn vị thành viên của Công ty Gang thép Thái Nguyên, nhiệm vụ chính của mỏ là khai thác quặng sắt để cung cấp cho nhà máy luyện gang công ty Gang thép Thái Nguyên. Trong đó, công trường Thác Lạc III là một trong những khai trường chính cung cấp sản lượng quặng cho công ty. Công trường Thác Lạc III bao gồm 04 thân quặng gốc: I, II, III, IV với trữ lượng địa chất toàn mỏ: B+C 1=1.619.757 tấn, trong đó: B=634.503 tấn; C 1= 985.254 tấn.

-Công suất mỏ hàng năm trong thời kì sản xuất là: Q quang= 75.000 t/năm.

-Công trường Thác Lạc III được đưa vào hoạt động từ năm 2003. Tầng khai thác bắt đầu từ tầng + 42 và kết thúc ở tầng – 22.

-Tình hình sản xuất thực tế của công trường Thác Lạc III hiện nay đã bước sang năm thứ 3 với độ sau khai thác ở mức + 14. Quá trình khai thác tầng sâu Thác Lạc III gặp không ít khó khăn bởi đặc điểm địa chất thủy văn khu vực mỏ khá phức tạp. Các nguồn nước chảy vào moong khai thác gây khó khăn cho sản xuất bao gồm các nguồn nước như sau.

1.1.Nước mặt

-Suối Thác Lạc chảy bên trên thành tạo đất đá chứa quặng trong phạm vi mỏ Thác Lạc.

-Ngoài ra mặt nước chảy vào khai trường là nước mưa và một phần nước ở trong tầng chứa nước phong hóa.

+ Lượng nước mưa đổ trực tiếp vào moong khai thác tính theo ngày mưa lớn nhất: Q 1= 69.080 m 3/ngày = 2.879 m 3/giờ.

+ Lượng nước mưa đổ vào moong khai thác tính theo lượng mưa trung bình tháng mưa lớn nhất: Q 2= 7.203 m 3/ngày = 300 m 3/giờ.

1.2. Nước ngầm

Trong phạm vi khai thác có những tầng và đồi chứa nước ngầm ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tháo khô mỏ, bao gồm:

Phức hệ chứa nước trong các loại á sét, sét, sét lẫn dăm sạn chứa quặng tuổi Mezozol – Kainozol: Tầng này phân bố trong phạm vi khai trường có chiều dày trung bình 24,5m (từ cốt + 38 m ÷+ 13,5 m ). Hệ số thấm tầng này K = 0.338 m/ng.đ.

Tầng chứa nước trong đá vôi nứt nẻ - Castơ, tuổi C-P (đới 1): chiều dày trung bình 36,5m (từ cốt +13,5m ÷-23m). Hệ số thấm K=5,2 m/ng.đ. Đây là tầng chứa nước có áp và là tầng ảnh hưởng tới công tác tháo khô nhiều nhất. Nhưng khi khai thác đến tầng này do bóc hết đất đá tầng trên nên tầng này chuyển thành tầng chứa nước không áp.

Khi tính toàn nước ngầm: Toàn bộ moong khai thác được quy về thành một giếng lớn, tâm giếng là lỗ khoan 532 nằm trên tuyến XXIV A, bán khính giếng R 0=60m. Suối Thác Lác chảy quanh 2 phía giếng lớn, lòng suối có sức cản thấm 1=59m. suối nước được mô hình hóa là hai biên cấp nước cho giếng lớn, hai biên này vuông góc với nhau. Khoảng cách từ tâm giếng lớn đến hai biên lần lượt là: Z 1=250m và Z 2=275m.

Lượng nước ngầm chảy vào mỏ tính toán:

-Tầng chứa nước trong các loại á sét, sét, sét lẫn dăm sạn chứa quặng tuổi Mezozoi-Kainozoi: (từ cốt +13,5 ÷-23m). Q 1=315m 3/ng.đ =14m 3/giờ.

-Tầng chứa nước trong đá vôi nứt nẻ - Castơ, tuổi C-P (đới I): chiều dày trung bình 36,5m : (từ cốt +13,5 ÷-23m) Q 2=25.329 m 3/ng.đ =1.055m 3/giờ.

-Xuất phát từ những vấn đề trên, giải pháp kỹ thuật khai thác tầng sâu Thác Lạc trong điều kiện địa chất thủy văn phức tạp đặt ra là:

1. Lựa chọn hệ thống khai thác và đồng bộ thiết bị phù hợp

2. Tháo khô mỏ-thoát được hết lượng nước ngầm, nước mặt trong thời gian ngắn nhất.

3. Ổn định cơ lý mặt tầng công tác và đường vận tải mỏ đảm bảo cho thiết bị hoạt động bình thường.

II. Giải pháp kỹ thuật khai thác tầng sâu Thác Lạc trong điều kiện địa chất thủy văn phức tạp

2.1Giải pháp lựa chọn đồng bộ thiết bị và hệ thống khai thác phù hợp

a. Giải pháp về đồng bộ thiết bị trong công nghệ khai thác

*Sử dụng máy xúc thủy lực gầu ngược kết hợp với ô tô tự đổ đứng cùng mức để mở tầng và đào hào cơ bản vào đào hào hố bơm.

*Thiết bị gồm:

+ Máy khoan tay loại: PR – 20 (dùng để xử lý các mô chân tầng và quá cỡ)

+ Máy khoan lớn loại: Khoan đập cáp CZ-20-2M.

+ Máy xúc thủy lực gầu ngược loại: CAT- 325, dung tích gầu 1,5m 3.

+ Ô tô vận chuyển loại KRAZ-256, tải trọng 12 tấn.

+ Máy gạt loại DZ-171, T130.

+ Máy lu để lu lèn hào và mặt đường vận chuyển 12 tấn.

b. Giải pháp lựa chọn hệ thống khai thác

Để phù hợp với điều kiện tự nhiên với thân quặng và thiết bị đã lựa chọn, đáp ứng tốc độ xuống sâu và ổn định sản lượng mỏ khai thác, hệ thống khai thác áp dụng cho Thác Lạc III là hệ thống khai thác hỗn hợp bao gồm:

*Hệ thống khai thác một hoặc hai bờ công tác khi khai thác từ tầng +26m đến +6m và hệ thống khai thác rẻ quạt tâm quay thay đổi khi khai thác từ tầng +6m đến -22m.

*Áp dụng phương pháp khấu theo lớp đứng, sử dụng bãi thải ngoài: xúc bốc đất đá và quặng bằng máy xúc thủy lực gầu ngược kết hợp khoan nổ đối với đá cứng và quặng, vận tải bằng ô tô tự đổ.

*Trong quá trình khai thác có sử dụng các hào tạm để thông tầng, hào tạm di chuyển theo tiến độ khai thác.

*Các thông số cơ bản của hệ thống khai thác như sau:

+ Chiều cao tầng khai thác: H=04 mét.

+ Góc nghiêng sườn tầng kết thúc: α= 45 0.

+ Góc nghiêng bờ kết thúc: γ= 23 0- 30 0.

+ Chiều rộng mặt tầng kết thúc: b=5-10 mét.

Với các thiết bị hiện có trên của mỏ, đồng thời kết hợp với hệ thống bơm thoát nước mỏ (giới thiệu ở phần sau). Mỏ sắt Trại Cau hoàn toàn có thể khai thác đạt được tốc độ xuống sâu hàng năm.

2.2 Giải pháp thoát nước tháo khô mỏ:

a. Nước mưa, nước mặt

Về công tác thoát nước mặt được thực hiện bằng 02 giải pháp sau:

1. Nắn suối Thác Lạc ra ngoài phạm vi biên giới mỏ khi đưa mỏ vào khai thác.

2. Đặt 02 trạm bơm phao để chủ động thoát hết lượng nước mưa và nước tầng phong hóa chảy vào moong khai thác:

-Trạm 1 đặt 02 bơm có mã hiệu LTC-150x2 (Việt Nam ), công suất động cơ là 75kw lưu lượng 150m 3/h (đặt ở phía Tây moong)

-Trạm 2 đặt 02 bơm có mã hiệu LT 2-280-70 (Việt Nam), công suất động cơ 100kw, lưu lượng 280m 3/h (đặt ở phía Đông moong)

Khi mưa to, lũ tăng cường thêm 02 bơm còn lại ở 02 trạm phao trên cùng hoạt động 03 ca liên tục. Sau trận mưa cần khoảng 3 ÷5 ngày thoát hết nước trong moong, trong khi đó mỏ sản xuất ở các công trường khác.

Từ tầng +18 trở đi, ngoài việc sử dụng 02 trạm bơm phao trên còn phải khoan thêm 08 lỗ khoan làm việc liên tục.

b. Nước ngầm

Toàn bộ lượng nước ngầm trong moong mỏ được tháo khô bằng 08 lỗ giếng khoan bơm thoát nước ngầm bố trí bao quanh moong ( vị trí của 08 giếng khoan được lựa chọn phù hợp theo điều kiện thực tế), miệng lỗ khoan ở mức +18, đáy lỗ khoan ở mức -27. Độ sâu của giếng khoan làm việc là: 45 mét. Sẽ đảm bảo thoát hết nước ngầm khi đồng thời cả 08 giếng khoan hoạt động.

2.3 Giải pháp nhằm ổn định mặt tầng công tác và đường vận tải mỏ

Trình tự một chu kỳ khai thác xuống sâu của moong Thác Lạc III:

1. Toàn bộ lòng moong khai thác được đào các hệ thống mương ở chân các tầng khai thác và tầng kết thúc, phần đáy moong (nằm trong tầng đất yếu á sét, sét, sét lẫn dăm sạn chứa quặng tuổi Mezozol – Kainozol) được chia ra bởi một mương dọc theo moong và các mương ngang dạng xương cá, dẫn nước mưa, nước mặt chảy về 02 hố bơm phao ở 02 đầu moong phía Đông và Tây, các mương được thi công sao cho đạt tốc độ dốc i=2-5%, nghiêng về phía hố bơm phao nhằm mục đích róc nước nhanh chóng các tầng khai thác sau mưa.

2. Mở các hào vận chuyển di động đi trong vỉa đá vôi, nối hào này với các hào ở dạng xương cá (hào xương cá được thi công bằng các loại đá vôi sau khi nổ mìn ra, được san gạt, lu lèn…), đẩy nhanh tiến độ bóc đất ở các vùng than quặng và vùng giáp biên giới kết thúc mỏ. Hào đi trong vỉa đá vôi và hào xương cá chỉ cắt bỏ sau khi đã kết thúc tầng khai thác theo hình thức cuốn chiếu.

3. Mở các hào vận chuyển di động và đào hố bơm vượt trước trong thân quặng, tận dụng tối đa các hào di động để vận chuyển đất đá và khia thác quặng nguyên, cũng chỉ cắt bỏ hào di động sau khi đã kết thúc tầng khai thác theo hình thức cuốn chiếu.

4. Trong các điều kiện địa hình chất thủy văn phức tạp, khó khăn thì bắt buộc phải tiến hành thi công tạo các đường xương cá vận chuyển bằng đá vôi sau khi nổ mìn và được san gạt, lu lèn… Các hệ thống đường xương cá vận chuyển trong tầng khai thác có thể làm 1 hoặc 2 làn xe chạy và bố trí hố quay cho hợp lý (thi công tùy thuộc vào địa hình thực tế cụ thể)

Chukỳ sản xuất của tầng khai thác kế tiếp được tiến hành tương tự.

Trên đây là một số giải pháp công nghệ khai thác tầng sâu Thác Lạc III trong điều kiện địa chất thủy văn phức tạp.

III. Mục đích và ý nghĩa của giải pháp công nghệ khai thác tầng sâu Thác Lạc

1. Treo khô được các tầng khai thác, Đảm bảo được tốc độ xuống sâu của mỏ.

2. Giảm thời gian ngừng trệ sản xuất do ảnh hưởng của nước ngầm, nước mưa, nước mặt, đáp ứng được tiến độ và thời gian đặt ra theo yêu cầu.

3. Đảm bảo được công suất mỏ theo thiết kế, tạo ra những thuận lợi cơ bản cho công tác quản lý và chỉ đạo SX-KD có hiệu quả cao hơn.

Nguồn : Công nghiệp mỏ, số 5-2006, tr.22.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.