Giá trị dinh dưỡng của cá rô phi
Cá dài từ 8 - 25cm, trung bình thường gặp là 10 - 15cm. Thân màu nâu, thuôn và gần như hình ống về phía đầu. Đầu cứng, mắt to, miệng trung bình, hơi tù. Vi hậu môn và vi lưỡng màu sậm.
Cá rô tạo ổ cho cá mái đẻ trứng, mỗi lần có thể đẻ đến 5000 trứng, cá đực canh giữ trứng đến khi trứng nở (1 - 2 ngày sau đó).
Cá thuộc loại ăn tạp và sinh sống tại những vùng nước chảy chậm như ao hồ, ruộng nước, phân bố rộng từ Ấn Độ, Đông Nam Á sang đến Philippines .
Cá rô chịu được những điều kiện thổ nhưỡng khó khăn, sống được trong nước đục, ao tù. Trong mùa khô, cá có thể vùi mình dưới bùn, ăn cây cỏ, tép và cá bột. Tại vùng châu thổ sông Cửu Long, cá được cho là khả năng di chuyển vào các nhánh sông nhỏ khi nước lên và sau đó trở về lại nơi đã sinh sống khi nước xuống. Cá có thêm một cơ quan thở phụ có thể thở bằng không khí ngoài trời, nên có thể sống được cả tuần nơi khô cạn, không nước miễn là cơ quan thở có đủ độ ẩm cần thiết. Cá cũng được cho là có khả năng đi bằng bụng (trườn bằng cách quẫy đuôi giống cá lóc) và trong điều kiện môi trường vừa đủ ẩm ướt, cá có thể đi xa cả trăm thước.
Cá rô tuy nhiều xương, nhưng được xem là một loại cá cung cấp thịt ngon, nấu canh rất ngọt và là nguồn thực phẩm quan trọng cho nông dân Đông Nam Á.
Thành phần dinh dưỡng:
100 gam phần ăn được (bỏ xương) chứa Calori: 103, chất béo 1,5g (bão hoà 0,3g; chưa bão hoà 1,2g), cholesterol, 45mg, chất đạm 20,3g, có đủ các loại vitamin B1, B2, B6, B12, PP và các chất khoáng: sắt, magnesium, natri, rất giàu kali (297,5 mg/100g tốt cho tim mạch), nhiều canxi, nên có thể được xem là giúp bổ xương.
Cá rô trong dược học cổ truyền
Dược học cổ truyền Trung Hoa gọi cá rô là Quyết ngư, Kế ngư, hay Thạch quế ngư.
Thịt cá rô được xem là có tính bình, vị ngọt, không độc; có các tác dụng bổ, ích cho tỳ vị, chữa được các chứng tràng phong hạ huyết, ích khí lực, làm người dùng có cảm giác khoẻ khoắn.
Mật cá rô hay quyết ngư đảm được dùng để điều trị hóc xương, trị dằm gai hay các loại gai hóc trong cổ (dùng mật khô hoà với rượu, hớp rồi nhổ ra).
Nguồn Thuốc & Sức khoẻ, số 357, 1 - 6 - 2008, tr 26








