Giá trị của Hải Sâm và thị trường tiêu thụ trên thế giới
Những năm gần đây xu hướng tiêu thụ Hải Sâm trên thị trường thế giới đang mở rộng là nhờ người tiêu thụ ngày càng đông do thu nhập ngày càng tăng, đời sống được cải thiện, tầng lớp giàu có và trung lưu càng nhiều, kèm theo đó môi trường bị ô nhiễm, bệnh tật ngày càng phát triển như bệnh phổi, đái tháo đường. Trong khi đó Hải Sâm không những là loài thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao mà còn là loại thuốc chữa bệnh vô cùng quý giá. Sự đánh giá ngày càng cao về Hải Sâm ở các thị trường Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á, và sự thừa nhận ngày càng tăng về giá trị dinh dưỡng của Hải Sâm đã đem đến sức tiêu thụ ngày càng nhiều trên thế giới.
Từ xa xưa người dân châu Á, đã biết Hải Sâm là món ăn đặc biệt ngon bổ, là một món ăn nổi tiếng trong 8 món ăn “Bát Trân” của vua chúa phương Đông có tác dụng bổ dưỡng, hồi phục sức khoẻ và tăng cường sinh lực nên được gọi là “nhân sâm” của biển cả.
Hải Sâm còn là loại thuốc quý, có tác dụng bổ máu, bổ thận, tráng dương, ích tích, bổ khí, điều trị bệnh liệt dương, suy nhược cơ thể, lao phổi, đái tháo đường, động kinh, thần kinh suy nhược, bệnh dạ dày, loét tá tràng, táo bón do khô ruột, viêm phế quản làm cho vết thương mau lành, chống lão hoá.
Dưới ánh sáng của khoa học người ta đã phân tích thành phần hoá học và sinh học cho thấy: Hàm lượng protein tỷ lệ rất cao chiếm từ 63,23 - 67,22%, hàm lượng glucid từ 2,25 - 4,4% hàm lượng lipid là 1,35 - 3,05% trong đó colescherol hầu như không có, các nguyên tố vi lượng sắt: (Fe) 197,55 mg/kg, đồng (Cu) là 62,00 mg/kg, Se có từ 5,5 - 13,7 mg/kg, testosteron 20,4 mg/g prorgesteron 207,1 mg/g. Trong đó vai trò của các nguyên tố Fe, Cu, Zn giúp cho việc tăng cường hồng cầu cải thiện khả năng hấp thụ oxy và Cu, Zn, Br, Mn hoạt hoá các cấu trúc thần kinh, tăng cường trí nhớ giảm hồi hộp lo âu, tạo ra sự chính xác, tập trung trong hành động. Nguyên tố Se giúp giảm mệt mỏi là chất chống oxy hoá, khử các gốc tự do sinh ra khi con người hoạt động ở cường độ cao. Trong cơ thể của Hải Sâm có các enzym và sự nối kết tăng cường cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, ở các mô liên kết da, màng lỗ hồng, cơ thể, da bên trong tuyến ống có nhiều loại axit như Mycopolysadiaride, có tác dụng làm hồi phục và phát triển cơ thể giúp an thần, hình thành xương ngăn cản sự lão hoá của cơ và xơ cứng động mạch. Mycopolysadiaride còn là loại thuốc chống u. Holotoxin được chiết từ Hải Sâm là một antimycin có tác dụng ngăn chặn nhiều loại mốc.
Hải Sâm là một loài sinh vật biển hết sức đặc biệt, khi tác động nhẹ vào, Hải Sâm bằng cách co lại cứng đơ giả chết, nếu tác động mạnh hơn Hải Sâm sẽ tiết ra một chất tạo thành một màng lưới để tự bảo vệ mình và chống kẻ thù. Khi gặp nguy hiểm đến tính mạng Hải Sâm tự phân huỷ thành từng đoạn mà chết. Song thực ra chỉ sau một tháng, xác Hải Sâm sẽ sống lại và biến thành nhiều Hải Sâm con, đây chính là khả năng tái sinh kỳ diệu của Hải Sâm.
Khả năng chịu đựng áp lực nước của Hải Sâm cũng rất đặc biệt, nó có thể sống trên mặt nước cũng như ở độ sâu 6 km dưới mặt nước biển có nghĩa là chịu được áp lực từ 1 đến 6000 atmốtphe. Tất cả những điều trên đã chứng minh hùng hồn về giá trị bổ dưỡng của Hải Sâm đối với con người, cũng vì vậy ngày nay Hải Sâm đã trở thành nhu cầu lớn.
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ Hải Sâm lớn nhất thế giới hiện nay. Hàng năm sử dụng từ 10.000 đến 12.000 tấn (khối lượng khô), giá bán lẻ Hải Sâm tăng đáng kể từ 18 nhân dân tệ/ kg năm 1960 lên 600 – 1000 nhân dân tệ năm 1990 và đến nay là 3.000 nhân dân tệ/ kg. Thị trường nhập Hải Sâm từ Hồng Kông, Indonexia, Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam và một số nước khác như Canada, Nga. Đặc biệt thị trường Trung Quốc tiếp nhận tất cả các loài Hải Sâm, không chỉ loại chất lượng cao mà bao gồm cả loại kích thước nhỏ và kể cả loài có giá trị thương phẩm thấp. Bao gồm (Hải Sâm tươi, chế biến đông lạnh, sấy khô, muối, hun khói…). Người Trung Quốc từng nói “ăn một con hải sâm một ngày, bạn sẽ không cần đến bác sĩ”. Từ những năm 90 vào thế kỷ trước các sản phẩm chế biến từ Hải Sâm đã được bày bán ở các cửa hàng dược phẩm, thực phẩm và ở các siêu thị dưới dạng bán buôn và bán lẻ.
Hồng Kông được coi là thị trường nhập khẩu Hải Sâm lớn nhất trên thế giới. Nhập nhiều nhất Hải Sâm khô, tiếp đến là Hải Sâm ướp lạnh, lột da từ Niu Di Lân cung cấp cho các nhà hàng đặc sản ở Hồng Kông và các tỉnh miền Nam Trung Quốc. Hồng Kông còn nhập các loài Hải Sâm nước lạnh từ Canada, Hoa Kỳ dưới dạng đông lạnh, bỏ nội tạng phục vụ cho thị trường cao cấp trong đại lục.
Các nước cung cấp Hải Sâm cho Hồng Kông là Indonexia, Việt Nam , Papua – Niu Ghinê, quần đảo Solomon Madagasca, Oxtralia. Ngoài ra còn có một số nước từ châu Phi và trung đông nhưng số lượng rất ít.
Ở Hồng Kông, Trung Quốc nguời dân thích dùng loại Hải Sâm Cát, Hải Sâm vú cỡ lớn và vừa, đây cũng là hai loại có giá trị cao. Hải Sâm được xem như một loại đặc sản đắt tiền, tiêu thụ nhiều trong những ngày lễ, tiệc cưới, tiệc chiêu đãi.
Hồng Kông nhập Hải Sâm về làm tăng giá trị sản phẩm và tái xuất trên 67% tổng số nhập khẩu hàng năm, trong đó xuất sang Trung Quốc 72% so với tổng lượng tái xuất.
Vùng lãnh thổ Đài Loan: nhu cầu tiêu thụ lớn với các sản phẩm giá trị gia tăng, đặc biệt là loại Hải Sâm gai sống ở vùng nước lạnh và nhiệt đới. Đài Loan nhập Hải Sâm từ Alaska, Canada, dưới dạng đông lạnh và nhập từ Peru dưới dạng khô. Hàng năm Đài Loan nhập khẩu 28% Hải Sâm đông lạnh, số còn lại nhập từ vùng nhiệt đới như Ấn Độ, Indonexia, Philippin.
Singapore : là nước không sản xuất Hải Sâm, nhưng Hải Sâm là một loài đặc sản được ưa chuộng nhất. Singapore sau khi nhập Hải Sâm và được chế biến thành sản phẩm có giá trị gia tăng, tái xuất sang các nước khá. Các nhà cung cấp Hải Sâm cho Singapore là Hồng Kông, Ấn Độ, Hoa Kỳ, các đảo quốc nam Thái Bình Dương, Mandivơ, Oapua Niu Ghine, Madagasca, Tanzania, Australia và tái xuất sang Malaixia, Đài Loan, Hồng Kông, Mianma, Thái Lan.
Các thị trường khác: ở Malaixia người Hoa ở vị trí thứ 2 chiếm khoảng 35% dân số, song tiêu thụ Hải Sâm không cao như ở Singapore. Vì vậy hơn 50% khối lượng nhập khẩu được tái xuất sang các thị trường Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, chủ yếu là Hải Sâm khô.
Ở Nhật Bản, Hàn Quốc Hải Sâm không sử dụng phổ biến, do đó nhập rất ít, hàng năm Nhật Bản nhập khoảng 10 tấn, Hàn Quốc 20 tấn đòi hỏi chất lượng rất cao. Ở thị trường Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Bỉ, nhập khẩu Hải Sâm chủ yếu phục vụ người Hoa.
Nhu cầu Hải Sâm trên thế giới ngày càng tăng, song nguồn lợi ngày càng giảm do khai thác bừa bãi. Ngày nay hều hết các nước đều ban hành luật và pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi, đồng thời đẩy mạnh việc nuôi và sinh sản nhân tạo Hải Sâm. Trung Quốc đã tập trung nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và nuôi Hải Sâm từ những năm 50 của thế kỷ trước, nhưng mãi đến thập kỷ 80 đạt kết quả, trong sản xuất giống và bảo vệ nguồn lợi Hải Sâm. Trung Quốc đã thành lập được 3 hệ thống nuôi Hải Sâm: nuôi ao, nuôi bằng lồng, nuôi biển và thành lập khu bảo tồn và bảo vệ nguồn Hải Sâm thiên nhiên. Trong đó nghề nuôi Hải Sâm trên biển đã mang lại hiệu quả đáng kể cho khu vực phía Bắc Trung Quốc và ở cả một số tĩnh phía nam Quảng Đông, Hải Nam , Phúc Kiến. Ước tính nuôi trên 55.000 ha thu hoạch trên 6.500 tấn khô tính quy tươi khoảng 150.000 tấn Hải Sâm nuôi và 550 tấn là từ khai thác tự nhiên. Với số lượng trên vẫn không đáp ứng được nhu cầu thị trường mà phải nhập khẩu từ nhiều nước.
Ở nước ta trong những năm qua nhu cầu Hải Sâm để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước phục vụ cho đời sống cho sản xuất các loại dược phẩm ngày càng tăng. Trong khi đó nguồn lợi Hải Sâm ngày càng suy giảm, do việc bảo vệ nguồn lợi chưa được chú ý đúng mức. Các kết quả nghiên cứu và sản xuất giống nhân tạo Hải Sâm mới dừng lại ở thí nghiệm chưa sản xuất đại trà.
Vì vậy các cơ quan quản lý và nghiên cứu từ các địa phương đến trung ương cần chú ý đến công tác quy hoạch, bảo vệ nguồn lợi và nghiên cứu khoa học để Hải Sâm, loài hải sản có giá trị, có sản lượng, chất lượng, ngày càng tăng góp phần cho xuất khẩu và nâng cao đời sống cho người dân vùng ven biển và tuyến đảo.








