Giá trị của biển đối với phát triển ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Biển và văn hoá
Con người trong môi trường biển đã sáng tạo nên văn hoá biển và tìm hiểu văn hoá tức là chúng ta đang trở về với sự thực cuộc sống của con người với biển, một vấn đề còn khá mờ nhạt mà lâu nay, những tìm hiểu, ghi chép về lịch sử văn hoá dân tộc dường như ít chú trọng.
Văn hoá biển của người Việt mang những nét đặc trưng bởi đó là kết quả của một thế ứng xử riêng với biển. Biển là một phần quan trọng trong cuộc sống người Việt, vì thế văn hoá biển góp phần làm phong phú hơn một nền văn hoá vốn có bề dày lịch sử.
Sống chung với biển, tác động và chịu sự tác động của biển, người Việt đã tạo nên một mảng ghép lớn thứ hai bên cạnh mảng ghép của văn hoá nông nghiệp. Đó chính là môi trường tiếp nối, tích hợp và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hoá dân gian. Không những phản ánh tình cảm, tâm linh, phong tục, lối sống mà còn biểu đạt cả tâm hồn yêu nghệ thuật, dùng ngôn ngữ - văn chương, lời ca tiếng hát để bày tỏ tình cảm tâm linh, đạo lí và triết lí của cộng đồng đối với biển. Qua đó, các tập quán, nếp sống tốt đẹp của dân tộc được giữ gìn và phát huy trong cuộc sống ngày hôm nay.
Những câu chuyện truyền thuyết, những câu ca dao, những làn điệu dân ca, tín ngưỡng, tập quán, những sản phẩm hiện hữu chứa đựng yếu tố biển là môi trường văn hoá quí giá, làm nền tảng để dân tộc và cả nước cất cánh, theo kịp thời đại. Đây cũng chính là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn, một loại hình du lịch đang được du khách trong và ngoài nước ưa chuộng. Văn hoá biển gắn với môi trường sinh thái biển làm tăng thêm sức hấp dẫn cho du lịch, làm cho môi trường du lịch trở nên có “hồn”, tạo nên cảm xúc thẩm mỹ đa dạng của du khách trước cảnh quan thiên nhiên, gợi ra những nét khác biệt căn bản mang đậm sắc thái vùng miền và tô đậm bản sắc dân tộc.
Du khách đến với các bãi biển để hưởng thụ môi trường khí hậu trong lành, cảm nhận vẻ đẹp tự nhiên, thì đồng thời cũng cảm nhận được nét đẹp của văn hoá biển truyền thống. Đây là một dịp để giới thiệu, quảng bá văn hoá dân tộc đối với du khách nước ngoài và khắc sâu thêm nhận thức về văn hoá biển cho chính chủ nhân của nó.
Biển và kinh tế
Biển đang là mối quan tâm hàng đầu trong phát triển kinh tế. Các nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có biển vì lợi ích của mình đều đã và đang xây dựng và triển khai những chính sách biển cụ thể:
Trong chính sách biển của Mỹ các vấn đề về kinh tế chiếm một vị trí lớn, đặc biệt chú trọng giao thông vận tải - thương mại trên biển, nghề cá và khai thác tài nguyên khoáng sản và năng lượng (90% hàng hoá của Mỹ giao lưu bằng đường biển, hàng năm Mỹ đánh bắt và đưa vào bờ khoảng 2,5 triệu tấn cá).
Nhật là một trong những nước quan tâm nhất và làm nhiều việc nhất trong lĩnh vực sử dụng và khai thác biển trên thế giới. Một trong những hoạt động trọng tâm của chính sách biển của Nhật hiện nay là tận dụng thế mạnh về công nghệ và kỹ thuật, đi sâu đầu tư nghiên cứu để trở thành nước hàng đầu sản xuất và cung cấp kỹ thuật, máy móc thăm dò khai thác tài nguyên và năng lượng biển và đại dương.
Trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu và định hình một chính sách biển quốc gia toàn diện. Trung Quốc đẩy mạnh tìm kiếm nguồn tài nguyên và năng lượng mới trên biển và đại dương. Các học giả nước này cho rằng: thế kỷ tới là thế kỷ tranh giành biển cả; biển là lối thoát của dân tộc Trung Hoa để sinh tồn và phát triển…
Các nước ASEAN cũng rất quan tâm xây dựng chính sách phát triển kinh tế biển. Philippin là quốc gia có nghề cá phát triển, là một trong những nước quan tâm đến việc phát triển tài nguyên biển sớm. Indonesia là nước có công nghiệp khai thác và sử dụng biển phát triển so với các nước khác trong khu vực. Singapore được coi là trung tâm hàng hải, công nghiệp và tài chính quan trọng. Thái Lan rất quan tâm đến lĩnh vực đánh cá ngoài biển và là một trong những nước có công nghiệp nghề cá phát triển, tích cực thăm dò, khai thác dầu khí biển… Phát triển kinh tế biển là một trng những mục tiêu chủ yếu trong chính sách biển của các nước ASEAN.
Những hiểu biết, so sánh giữa nước ta và các nước trên thế giới về tiềm năng biển và chính sách phát triển kinh tế, văn hoá biển là vấn đề quan trọng, giúp chúng ta có được cái nhìn đầy đủ hơn trong quá trình hoạch định phát triển kinh tế, văn hoá biển trong hiện tại và tương lai.
Điều kiện tự nhiên làm cho biển Đông ở nước ta nổi tiếng là vùng biển giàu có, nhiều tiềm năng. Thế mạnh kinh tế sẽ cực kỳ to lớn nếu con người biết tận dụng, khai thác. Tuy nhiên một nghịch lý đã từng tồn tại suốt nhiều thế kỷ ở nước ta là con người cần cù lao động, thông minh và dũng cảm cùng với một thiên nhiên vô cùng ưu đãi, biển bạc bao la mà lại không giàu có. Rõ ràng, cách ứng xử của người Việt với biển trong lịch sử đã chưa phát huy được thế mạnh kinh tế mà biển có thể mang lại.
Trong những thập kỷ gần đây, đất nước đứng dậy sau những cuộc chiến tranh chống lại những đế quốc đầu sỏ, phải đối mặt ngay với một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Xây dựng kinh tế đất nước đòi hỏi chúng ta phải thay đổi tư duy và có những định hướng đúng đắn. Biển và phát triển kinh tế biển là mối quan tâm hàng đầu, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài cho sự phát triển. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có một số Nghị quyết, chính sách về lĩnh vực liên quan đến biển. Thực hiện các chủ trương, chính sách đó, kinh tế biển và khu vực ven biển đang chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế. Năm 1993, Bộ Chính trị có Nghị quyết 03-NQ/TW về biển; Năm 1997, Bộ Chính trị có chỉ thị 20-CT/TƯ về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng CNH - HĐH; Đại hội IX chủ trương phát triển kinh tế biển và ven biển… để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác; Đại hội X đề ra mục tiêu: “sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh và hợp tác quốc tế”…
Đẩy mạnh việc khai thác vùng ven biển, tạo nên sự chuyển biến cơ bản và toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển là một trong những ưu tiên quốc gia hàng đầu trong việc thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của cả nước nhằm tạo nên động lực phát triển kinh tế, tạo bước nhảy vọt trong phát triển kinh tế biển. Chính sách này đã và đang được thực hiện thông qua việc đầu tư và phát triển mạnh một số ngành kinh tế quan trọng: dầu khí, thủy sản, giao thong vận tải biển, du lịch biển, khai thác khoáng sản biển, xây dựng các địa bàn trọng tâm kinh tế và phát triển kinh tế đảo.
Trong phát triển kinh tế nói chung và kinh tế biển nói riêng ở nước ta, mở rộng hợp tác và liên doanh với nước ngoài đã tạo nên xu thế mở, thoáng, phù hợp với năng lực biển còn hạn chế của đất nước và xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thế giới hiện nay.
Biển và quân sự
Đứng trước trào lưu của thời đại biển, dân tộc Việt Nam ta đang đứng trước thách thức lớn lao. Chúng ta phải thực sự thức tỉnh ý thức về biển của cả dân tộc: Làm chủ được biển của mình; phát triển mạnh mẽ kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi của nước ta trên biển; một lần nữa vươn lên trở thành quốc gia mạnh về biển ở Đông Nam Á hay để cho các quốc gia khác lấn lướt, thu hẹp các vùng biển, đặt dân tộc ta trong tình trạng hụt hẫng, bị động, lệ thuộc trên biển Đông?
Vì biển có vai trò to lớn trong phát triển nên vấn đề quân sự trên biển, bảo vệ chủ quyền biển ở các quốc gia có biển hết sức quan trọng. Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong chiến lược biển của nhiều nước và khu vực, đặc biệt là của các cường quốc hàng hải và các nước phụ thuộc vào con đường biển đi qua biển Đông.
Một phần lãnh hải Việt Nam nằm trên biển Đông. Sự phức tạp chung trong tình hình tranh chấp giữa các quốc gia càng đòi hỏi cao hơn mức độ quan tâm và tăng cường chiến lược quân sự trên biển. Lập trường của Chính phủ Việt Nam đã thể hiện rõ ràng trong Nghị quyết Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 5 về phê chuẩn công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 đã thể hiện rõ: “Lập trường trước sau như một của Chính phủ: Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các tranh chấp khác liên quan đến biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982”. Trên tinh thần đó, chúng ta đã và đang xúc tiến chuẩn bị các phương án giải quyết bất đồng với các nước láng giềng và thúc đẩy đàm phán để giải quyết các bất đồng.
Lực lượng hải quân có vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ biển đảo, kết hợp với lực lượng cảnh sát biển và phát huy sức mạnh tổng hợp vủa các lực lượng, các ngành thuộc trung ương và địa phương có liên quan để bảo vệ có hiệu quả chủ quyền và quyền lợi trên biển của nước ta, đảm bảo an ninh trật tự xã hội trong thời bình, đồng thời tạo cơ sở cho việc bảo vệ biển khi có tình huống xảy ra xung đột, chiến tranh trên biển.
Biển và vấn đề giữ biển có ý nghĩa sống còn đối với độc lập dân tộc, toàn vẹn đất nước. Giữ biển là để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, khai thác, hoạt đông kinh tế biển và sự giao lưu quốc tế của nước ta.
Biển và khoa học, môi trường
Biển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền đất nước. Trên thực tế, nhận thức về biển luôn gắn với nhận thức về phát triển kinh tế biển và bảo vệ biển (an ninh chủ quyền và môi trường). Đây là hai mặt của một vấn đề cần được chú ý giải quyết để đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai.
Biển đã tạo nên hai nhóm hệ sinh thái quan trọng ở nước ta: Nhóm hệ sinh thái nước lợ (Đầm phá nước lợ, bãi biển nền bùn và nền cát, bãi biển bờ đá, rừng ngập mặn) và nhóm hệ sinh thái nước mặn (rạn san hô, thềm lục địa, biển và đại dương). Hai kiểu hệ sinh thái này kèm theo hai quần xã sinh vật riêng, với năng suất sinh học khác nhau giữ vai trò quan trọng đối với đời sống người Việt. Biển là môi trường sống, môi trường lao động và sản xuất. Biển và đại dương như một “máy điều hoà khí hậu” khổng lồ, môi trường sống lý tưởng của con người. Biển rộng lớn còn mang chức năng của một dây chuyền xử lí chất thải. Một nguồn không quá lớn sẽ được phân huỷ bởi vi khuẩn và các vi sinh vật khác. Một khối lượng lớn oxit cacbon (CO 2) được hấp thụ bởi các tế bào thực vật biển thông qua quá trình quang hợp làm giảm tác nhân gây hiệu ứng nhà kính.
Các hệ sinh thái ven bờ là phương tiện cho giáo dục đào tạo trên nhiều lĩnh vực. Rạn san hô, rừng ngập mặn… là những nơi thiết lập các trạm nghiên cứu hoặc địa điểm thực tập của học sinh, sinh viên. Đây cũng là mẫu hình về các nguyên lý sinh học, sinh thái.
Quá trình nghiên cứu và phân tích các khía cạnh văn hoá biển của người Việt cũng có nghĩa là quá trình đi tìm các giá trị khoa học từ các góc độ: khảo cổ, lịch sử, ngữ văn, tín ngưỡng và nghệ thuật nhằm đi đến mục đích bước đầu phác hoạ chân dung văn hoá biển của người Việt.
Tuy nhiên, những tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cơ chế thị trường những năm gần đây trong mặt trái của nó đã gây ra những hậu quả trước mắt và lâu dài đối với môi trường biển. Đây không chỉ là vấn đề riêng ở Việt Nam mà còn là vấn đề chung của nhân loại khi con người nhận ra mối quan hệ giữa phát triển và bền vững.
Vấn đề bảo vệ môi trường biển đã trở nên cấp bách. Đã từng có nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học về vấn đề này. Nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu suy thoái và ô nhiễm môi trường biển cũng như vùng ven biển nước ta đã được đặt ra và đang được tiến hành. Tuy nhiên, cái gốc của vấn đề lại nằm ở chính nhận thức của con người. Có nghĩa là, chúng ta cần phải trang bị một đạo đức sinh thái bên cạnh đạo đức xã hội. Nói như tác giả Trần Lê Bảo (2001): “Nếu như đạo đức xã hội giữ vai trò điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người thì đạo đức sinh thái điều chỉnh các mối quan hệ của con người với tự nhiên” [Văn hoá sinh thái nhân văn: 162].
Biển là môi trường sống thân thiết của người Việt. Môi trường ấy đã chi phối đến cả phần thể chất lẫn tâm hồn của những con người nơi đây. Người Việt có truyền thống hoà hợp với thiên nhiên, truyền thống này đến nay không những vẫn còn nguyên giá trị mà hơn thế, ngày càng khẳng định đó là bài học quý báu trong quá trình “vươn ra biển lớn” của cả dân tộc.








