Dự báo văn hoá từ vị thế văn hoá dân tộc
Dự báo có mặt từ lâu đời trong nền cổ học phương Đông, trước đây tổ tiên ta thường gọi bằng danh từ tiên tri; cái tên có vẻ mơ hồ và trừu tượng nhưng đó là khoa học về âm dương – ngũ hành gắn với cơ trời và thế nước, lòng người và các vị thế núi sông... Nguyễn Trãi dâng kế sách cho Lê Lợi điều chỉnh về thời gian nổ ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm cố vấn về thái độ ứng xử lẫn nhau cho vua Lê – chúa Trịnh trước tình thế lao lung, chỉ ra hướng lui binh cho Mạc Đăng Dung và con đường dựng nghiệp cho Nguyễn Hoàng; thầy giáo Hiến khẳng định với ba anh em Nhạc – Huệ – Lữ về “Tây Sơn khởi nghĩa, Nam Bắc thu công”...; tất cả đều xuất phát từ dự báo và tiên tri. Một con người kì vĩ, am tường các mặt cơ bản trong tinh hoa cổ kim, Đông Tây như Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, cũng coi trọng tiên tri và tiên tri chính xác về thời gian thành công của Cách mạng tháng Tám – 1945, về sự kiên B52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội... Khoa học thời hiện đại, chưa ai phân tích đủ sức thuyết phục cái cơ mật mang tính huyền bí trong những lời dự báo có độ chính xác cao của tiền nhân là các bậc thức giả tiên tri. Một trong những mặt hấp dẫn trong hệ tư tưởng phương Đông đối với các học giả ở nhiều chân trời là từ những phán đoán tiên tri đó – tuy dự báo theo phương pháp tiên tri không thể phát triển trong thời đại khoa học – công nghệ tiến nhanh ngoài dự báo.
Trước đây ta có vẻ thờ ơ với danh từ “dự báo” và “dự báo văn hoá” song nếu không xuất phát từ nội hàm của khái niệm dự báo, làm sao ta có Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943, có các Nghị quyết, chính sách và chủ trương lớn về văn hoá văn nghệ của Đảng và Nhà nước ta từ hơn 60 năm qua. Từ thực tiễn tình hình mà dự đoán hướng phát triển và hướng phát triển nào cũng không tách rời các phương châm của định hướng phát triển văn hoá dân tộc. Định hướng nhất quán theo tiêu điểm yêu nước và chủ nghĩa xã hội, song nếu chính sách không được điều chỉnh và bổ sung phù hợp theo yêu cầu của giai đoạn, thì định hướng cũng bị ảnh hưởng theo. Từ dự báo chung về đặc điểm thời đại và khu vực đến dự báo riêng về xu thế đất nước và văn hoá dân tộc trong thời hội nhập và mở rộng giao lưu, tất cả đều có quan hệ mật thiết đến từng khâu, từng đặc thù của lĩnh vực văn hoá. Văn minh và trí tuệ thời đại có mặt trong ta, và bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn Việt Nam góp phần làm phong phú diện mạo kỷ nguyên toàn cầu hoá. Biện chứng phát triển ấy không gì khác hơn là cần một chính sách dự báo thông thoáng và mực thước, kiên trì và kiên định. Do thời đại không ngừng biến động, làm đảo lộn nhiều dự báo mới chỉ cách đây không lâu, thì tính khoa học uyển chuyển trong dự báo càng được đề caol. Việt Nam là một những quốc gia có nền văn hoá dân tộc lâu đời, từng có nền văn chương, nghệ thuật đứng vào hàng ngũ các nước tiên phong trong thời đại giải phóng dân tộc, thì ngày nay trước vận hội và xu thế mới của thế giới, chúng ta càng tỏ rõ tính ưu việt và sức sống của một đất nước luôn hướng tới các giá trị nhân bản và văn minh.
Trong một thông điệp cách đây không lâu, UNESCO đã từng đưa ra lời cảnh tỉnh: Mỗi dân tội phải tự nhận chân ra mình, đồng thời cũng là con đường để dân tộc tiến vào thế giới. Theo xu hướng ấy, nhiều quốc gia đã tự điều chỉnh những gì còn chuệch choạc trong dự báo văn hoá của mình. Về đại thể, Việt Nam chưa từng bị khủng hoảng văn hoá, chỉ có một thời gian do giáo điều, sao chép máy móc nhiều luận điểm văn hoá từ bên ngoài, đã làm xơ cứng hoặc nghèo nàn một phương pháp sáng tác nghệ thuật vốn lạc quan cách mạng và đề cao tính hiện thực nhiều vẻ của chủ nghĩa xã hội theo hoàn cảnh dân tộc. Nhược điểm ấy đã được nhìn nhận lại sau khi đổi mới tư duy. Nhưng văn hoá đất nước lại đang đặt ra nhiều vấn đề trước những bỡ ngỡ, những cái chưa có trong tiền lệ, hoặc những cái đã có nhưng vận dụng thế nào cho thích hợp khi lịch sử đất nước đã sang trang. Vẫn biết văn hoá là hệ giá trị nhưng sự đan xen phức tạp giữa nhiều kiểu tư duy và luận điểm, giữa cái lành mạnh và cái tầm thường của thị hiếu thẩm mỹ, giữa cái tiến bộ và cái trì trệ của nhân tố văn hoá.... lắm khi khó bề nhận dạng, ảnh hưởng đến sự xác nhận quy luật giá trị. Sự phong phú và đa dạng của văn minh trí tuệ trong thời đại toàn cầu hoá, cũng đồng thời là sự “phong phú không bến bờ” của luận điểm ngôn từ, hình tượng, biểu tượng... mà lắm khi chỉ có độ lùi của thời gian mới tháo dần khúc mắc. Một chính sách dự báo thông thoáng và mực thước chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi có phương pháp dự báo khả thi thuyết phục.
Trên thế giới hiện nay có nhiều phương pháp dự báo khác nhau, nhưng thông thường người ta căn cứ vào các mô hình có bề dày ổn định (bảo tàng, thư viện, nhà hát...) và các mô hình mang tính thể nghiệm, chưa già dặn về mặt thử thách (các câu lạc bộ và các tổ chức thể nghiệm nghệ thuật, các lý thuyết về trường phái và phương pháp sáng tác nghệ thuật...). Mô hình nào cũng cần dự báo theo biến đổi thời gian: Mặt cần vượt qua và mặt cần phát triển, mặt cần điều chỉnh và mặt cần gia công nghiên cứu, ứng dụng... Trong cái bề bộn của dự báo tổng hợp, người ta ưu tiên cho những dự báo trực tiếp ảnh hưởng tới nhu cầu văn hoá của cộng đồng, của địa phương, của lĩnh vực hoạt động. Trong giai đoạn hiện nay, những dự báo về hội nhập và giao lưu được xem là quan trọng hàng đầu. Khoa học dự báo không thể không tính đến những đặc điểm cộng đồng dân cư, tâm lý, dân trí và xu thế thẩm mỹ của con người, mặt ưu trội và những trì trệ theo thói quen, những tác động và ảnh hưởng từ thông tin đại chúng... Có chính sách dự báo hợp lý, dự báo mới trợ thủ đắc lực cho chính sách văn hoá, phù hợp với tầm nhìn và nhãn quan thời đại.
Xin đề cập một số vấn đề cần dự báo vì nhu cầu hoàn thiện chính sách văn hoá.
1.Văn hoá dân tộc phải chịu thử thách như thế nào trước nhiều luồng văn hoá xâm nhập vào nước ta trong giai đoạn toàn cầu hoá? Những suy nghĩ và băn khoăn đó có phần xác đáng, khi biết rằng một số quốc gia đó ở châu Phi và Mỹ Latinh đang “đau đầu” vì nhiều bộ phận văn hoá dân tộc đang bị mất gốc do lối sống nghệ thuật phương Tây chi phối. Những nhà dự báo văn hoá không thể không dự đoán điều đó để có kế hoạch bảo tồn văn hoá dân tộc trong bất cứ trường hợp và hoàn cảnh nào. Song, mặt khác phải tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của sự tha hoá văn hoá dân tộc ở đâu đó, có gì khác với phương pháp nhận thức khoa học trong việc điều hành hiệu quả mục tiêu văn hoá dân tộc ở những quốc gia rất thành công trong định hướng văn hoá của mình. Khách quan thừa nhận rằng, Việt Nam đã là một quốc gia có nhiều mặt cơ bản thành công như vậy, tuy đang tồn tại không ít khó khăn, nhất là quan niệm sự vận dụng về hiện đại văn hoá truyền thống. Đó chính là vấn đề xác định sự chuyển đổi giá trị theo bản chất một nền văn hoá, trong khi đề cao bản sắc dân tộc của nền văn hoá ấy.
Với quan niệm văn hoá phát triển đúng đắn, không phải cái gì đã có trong quá khứ cũng trở thành truyền thống. Truyền thống là tinh hoa đã được chắt lọc qua thử thách, qua thời gian và nâng cao theo yêu cầu trình độ dân trí – thẩm mỹ mà không xa rời cội nguồn sản sinh ra loại hình văn hoá nghệ thuật ấy . Đó là luận điểm khoa học mực thước, phù hợp với tư duy biện chứng về hệ giá trị văn hoá. Chuyển đổi từ giá trị truyền thống đến hiện đại hoá truyền thống là không làm xơ cứng giá trị theo sự ngưng đọng thời gian mà là sự vận động của giá trị để phù hợp với dân tộc trong thời đại mới. Song, phải thấy rằng, dù chuyển đổi giá trị đến đâu, văn hoá nghệ thuật truyền thống khi đã ăn sâu vào tiềm thức một cộng đồng vẫn có sức sống lâu bền với thời gian, do có những yếu tố ổn định, những yếu tố này lại có sức lôi cuốn và hoà quyện với sắc thái tâm hồn dân tộc. Nếu không có yếu tố ổn định thì truyền thống không gọi là truyền thống và trở thành vô nghĩa.
Văn chương và nghệ thuật là những lĩnh vực vô cùng tinh tế và phức tạp của văn hoá, vấn đề hiện đại hoá như thế nào là việc phải được đặt ra trước tiên và phải được dự báo một cách có căn cứ khoa học. Sự thành công của nhiều vở diễn (tuồng, chèo, cải lương), nhiều hoạ phẩm và nhiều ca khúc với đề tài hiện đại, được khai thác từ nhiều yếu tố và làn điệu truyền thống, đã minh hoạ cho quan niệm chính xác về hiện đại hoá truyền thống; nhưng cạnh đó, những thể nghiệm hiện đại hoá truyền thống còn nhiều chuệch choạc, lại có nhiều nguyên nhân khác. Cũng cần thấy rằng, một số cơ cấu truyền thống do đã xơ cứng có thể suy thoái trở thành chủ nghĩa bảo thủ, biến thành trở ngại cho các quá trình đổi mới, thậm chí đối lập với các quá trình ấy. Tất nhiên, không vì thế mà chúng ta coi truyền thống là một “mớ” giáo điều, vì không có sự sáng tạo nào có thể có được nếu không có một điểm xuất phát từ truyền thống. Cũng tất nhiên, đổi mới không phải chỉ là tạo ra một cái gì hôm qua chưa từng có, mà cái chính là tạo ra những yếu tố hợp lý hơn, hệ giá trị vững chãi hơn, đảm bảo sự tiến hoá theo quy luật.
Một phần lớn lớp trẻ hiện nay đang quay lưng lại với nghệ thuật truyền thống, đó là sự thật, do họ không được học từ nhà trường các loại hình nghệ thuật của tổ tiên truyền lại; mặt khác do bản thân nhịp điệu và nội dung của loại hình này không phù hợp với tâm lý năng động của họ. Khắc phục hiện trạng đó, chỉ có đưa văn hoá nghệ thuật truyền thống vào nhà trường và tăng cường giáo dục truyền thống dưới mọi hình thức phù hợp. Tình yêu một loại hình văn hoá nghệ thuật chỉ thật sự đến với ai nhận chân được hệ giá trị và tính thẩm mỹ của nó. Hiện đại hoá thành công nghệ thuật truyền thống là biện pháp hữu hiệu nhất làm sống dậy nghệ thuật tinh hoa truyền thống.
2.Trong dự báo văn hoá, người ta thường nhìn vấn đề ở hai dạng: do chịu sự tác động của các hoạt động sáng tạo nên văn hoá thường ở trạng thái động, nhưng trong một không gian và thời gian nhất định, văn hoá thường ở trạng thái tĩnh, do bị ngăn cách với các sáng tạo từ bên ngoài. Cái “tĩnh” kéo dài phần lớn thuộc về các xã hội chậm phát triển! Với thời đại toàn cầu hoá như hiện nay, cái “tĩnh” chỉ là tạm thời, song kết hợp như thế nào giữa cái “động” tự phát với cái “động” có uốn nắn, điều chỉnh, giữa nội lực cần phát huy với ngoại sinh cần thích ứng, là sự khác nhau của các định hướng phát triển theo yêu cầu của mỗi dân tộc,
Do đó, văn hoá luôn được xem xét trên hai hướng tiếp cận: mục đích và phương tiện. Với mục đích, bản thân văn hoá là tự giá trị thể hiện ý nghĩa tiến bộ của xã hội. Với phương tiện, văn hoá là động lực thúc đẩy mọi lĩnh vực của đời sống. Đi vào chiều sâu văn hoá, chúng ta còn thấy rằng, thông qua những thuộc tính hoạt động khác nhau, con người tự biểu hiện trình độ văn hoá của mình và trở thành phương tiện hoạt động. Trong quá trình đạt đến mục đích trên các lĩnh vực, lại diễn ra sự phát triển mới của văn hoá, biểu hiện cái mới trong phát triển con người. Như thế, mục đích đạt được lại trở thành phương tiện để đạt tới mục đích. Những tinh hoa văn hoá nghệ thuật ta tiếp thu từ bên ngoài và đã được bản định hoá xưa nay, trở thành một đặc trưng trong đời sống tinh thần và hệ giá trị Việt Nam, đều là sự biến thể của hai mặt phương tiện và mục đích ấy.
Nhưng hiện nay, từ trên dưới mười năm trở lại đây, trong sáng tác văn chương nghệ thuật của ta hầu như thiếu vắng một phương pháp chính thống, trong khi định hướng chung là xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhiều lý thuyết nhân danh “hậu hiện đại” ra đời và mọi lý thuyết hầu như xa dần cái trục “dân tộc – hiện đại – nhân văn” là cái cốt tuỷ của hệ giá trị văn hoá dân tộc theo quy luật tiến hoá. Ta suy nghĩ như thế nào đây khi có người lập luận: “Một xã hội bình ổn, thậm chí là nhạt nhẽo mới là điều kiện tốt để nhà văn lặn thật sau vào đáy tâm hồn và tình cảm của con người”. Bình ổn là cái mà mọi người đều mong ước, nhưng tại sao có xã hội nhạt nhẽo nhà văn mới phát huy được tài năng? Có phải đấy là một mắt xích trong cái “loạn phương pháp” hay các nguyên lý mỹ học không còn tác dụng?
Nhưng cái mà mọi người quan tâm nhiều hơn cả là chính sách văn hoá của ta trong thời hiện đại hiện tại nhiều lúc không đi đôi giữa lý thuyết và hành động chỉ đạo, thực thi. Người ta thích nói nhiều về câu, chữ quen thuộc có sẵn trong đường lối trên diễn đàn còn khi đi vào cái cụ thể thì không thấy ai đưa ra biện pháp khả thi để có hành động thiết thực và nhất quán.
Gần đây báo chí không ngớt than phiền về tình trạng “ngợm hoá nhân vật – loạn hoá xã hội” trong văn chương (và cả trong nghệ thuật điện ảnh): “Điều đáng buồn, đáng ngạc nhiên, đáng xấu hổ là không ít những thứ rác rưởi, đồ thối rữa đã bốc mùi, bị người ta chôn vùi, chối bỏ từ lâu ở đâu đó, nay lại có người tha về tái chế đôi chút rồi trưng ra những thứ phát hiện mới, là món hàng thời thượng cần được quảng bá rộng rãi cho người tiêu dùng...” (2). Loại văn chương nghệ thuật đó thường sánh vai với sex, với suy thoái và rẻ rúng nhân cách. Có một chân lý tưởng chừng bình thường và giản dị đối với cái cao quý của văn chương nghệ thuật và hệ giá trị văn hoá - nhưng trong giai đoạn có nhiều rối ren về xu thế thẩm mỹ, những người có lòng tự trọng về nghề nghiệp vẫn cứ muốn nhắc lại: nhà văn và nghệ sĩ với thiên chức của mình, không được tầm thường hoá, thú vật hoá, đê tiện hoá những cái mà mình cần miêu tả như hành động giết người hoặc hành động tình dục...
3.Một trí thức Việt kiều, giáo sư triết học một trường Đại học nổi tiếng ở Đức khi về thăm quê hương thời gian gần đây, có khá nhiều băn khoăn về văn hoá dân tộc trước xu thế hội nhập của đất nước, đáng để chúng ta suy nghĩ: “Đường phố đen nghịt xe, khí thải mù mịt, hầu hết những người đi đường bịt mặt. áo quần họ đang mặc, nhất là các phụ nữ, theo mốt châu Âu, váy đầm dài ngắn, quần jean bó sát, áo thun hở rốn, hở lưng, tóc quăn hay thả, có đầu nhuộm vàng, găng tay đeo tận nách, đầu mũ vải...” (3). Đó là một mặt trong cái lộn xộn và cả xô bồ của đời sống, lối sống dưới nhiều dạng hình thái văn hoá khác, trong đó có đan xen và sự níu kéo giữa cái cũ và cái mới, truyền thống và hiện đại, giữa cái nhu cầu tự thân và sự đua đòi, a dua theo thời thượng... Suy cho cùng, các hiện tượng trên không có gì khó hiểu đối với một đất nước từ lâu sống với văn minh nông nghiệp và đang từng bước làm quen với văn minh công nghiệp, từ kinh tế bao cấp chuyển sang thị trường, từ cái bản ngã phương Đông tiếp cận với nhiều luồng văn hoá khắp các châu lục.
Dù hội nhập như thế nào trước xu thế toàn cầu hoá, thì điều trước tiên phải tỏ rõ bản lĩnh Việt Nam trên cơ sở đặc điểm và hệ giá trị văn hoá của dân tộc. Đó là cái ta không tự đánh mất mình, không bị chìm khuất dưới bất cứ ảnh hưởng nào. Và đó chính là “cẩm nang” để ta đủ sức nặng giao lưu với bạn bè thế giới. Giáo sư Thái Kim Lan, người có đôi băn khoăn trên đây, đã có một lập luận khá độc đáo và sâu sắc, để chiếm được sự đồng tình trong đông đảo dư luận: “Khả thể hội nhập cái mới có lẽ nằm trong chìa khoá: “phải thật là cũ” với một tâm thức tự do, mở toang tất cả lâu đài văn hoá nghìn xưa, khơi lửa trong đống tro, sẵn sàng bứt phá, sáng tạo như chính cuộc sống hiện tại đang bừng dậy “(4). Hệ giá trị trong cái cũ chính là tinh hoa của truyền thống mà ta chưa khai thác hết nên chưa khơi dậy. Phải tạo ấn tượng Việt Nam trong con mắt bạn bè thế giới. Phải từ tinh hoa Việt Nam mới góp mặt được với cái đa dạng của văn hoá văn minh loài người.
Nhận thức trên cũng phù hợp với ý nghĩ của người đứng đầu ngành văn hoá nhân dịp đầu năm 2007: “Ở tầm vĩ mô, có thể nói thách thức lớn nhất đối với văn hoá Việt Nam (trong hội nhập) sẽ diễn ra trên lĩnh vực giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc” (5), bởi vì mất bản sắc dân tộc sẽ mất hết.
Cũng xuất phát từ ý thức bảo tồn bản sắc và hệ giá trị văn hoá dân tộc, ở đây, chúng tôi chỉ đề cập một số mặt thiết thực và cần kíp về truyền thống, hiện đại và hiện đại hoá truyền thống, theo yêu cầu một nền văn hoá luôn hướng đến giá trị: dân tộc, hiện đại và nhân văn. Chúng ta đã có nhiều kế hoạch dài hạn và ngắn hạn về phát triển văn hoá, nhưng chưa đặt thành vấn đề dự báo như là một chính sách dự báo, nên có nhiều hạn chế về tính khả thi. Chính sách dự báo văn hoá nào cũng nhằm hoàn thiện nhiều mặt về chính sách văn hoá - một lĩnh vực vô cùng phức tạp và khó khăn trong thời đại văn minh trí tuệ, đặc biệt trong hoàn cảnh tại ở Việt Nam .
Chú thích : 1,2 Báo Văn nghệ, số 11, 2007 / 3,4,5 Tạp chí Văn hiến Việt Nam , số 1, 2-2007
Nguồn: TC. Thông tin Văn hoá Nghệ thuật, số 5 - 2007








