Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và biến đổi khí hậu
1. Mở đầu
Một trong các vấn đề gay cấn nhất của con người hiện nay là vấn đề môi trường và phát triển. Với nhịp độ phát triển rất nhanh nhưng lại không bền vững thì tác nhân gây ra các thảm hoạ môi trường chính là con người và hậu quả là thay đổi khí hậu cũng sẽ huỷ diệt chính con người gây ra. Đó là vấn đề tăng phát thải khí nhà kinh (chủ yếu là CO 2) vào không khí làm tăng nhiệt độ, gây ra nạn tan băng ở 2 cực làm mực nước biển dâng cao.
Những cảnh báo gần đây nhất cho thấy hậu quả của biến đổi khí hậu làm tăng nhịp điệu và tần số gió bão, ngập lụt, hạn hán, khốc liệt hơn, con người còn phải đối mặt với việc tan băng làm nước biển dâng cao, sẽ mô tả ở phần sau.
Việc tăng phát thải CO 2có các nguyên nhân chủ yếu là công nghiệp phát triển, sử dụng quá mức nhiên liệu hoá thạch, tăng dân số và nhu cầu sống, núi lửa, cháy rừng. Mặt khác, tốc độ mất rừng ngày càng cao làm giảm năng lực hấp thụ CO 2tại các nước vùng nhiệt đới đang phát triển trước áp lực dân số, lương thực, chất đốt.
Mặc dù có những nước công nghiệp như Mỹ phát thải CO 2cao tới mức trên 20 tấn trên đầu người một năm, và cũng có nước nông nghiệp chỉ ở mức chưa tính bằng đơn vị tấn như Việt Nam, thế mà việc tham gia công ước khung về thay đổi khí hậu (UNFCC, 1994) lại được Việt Nam ký kết trước, thậm chí trồng tới 5 triệu ha rừng để lập lại cân bằng sinh thái, bù đắp tốc độ mất rừng cao trước đây.
Hội thảo đối thoại về rừng và thay đổi khí hậu trong khuôn khổ tuần lễ lâm nghiệp Châu Á Thái Bình Dương vừa diễn ra tại Hà Nội đã đăt ra câu hỏi: “ Nước nào sẽ chịu hậu quả cao nhất và trước nhất từ việc thay đổi khí hậu, nước trồng nhiều rừng hay nước không trồng rừng ? “. Ngày nay 2 hệ thống giải pháp được song song áp dụng để chống thay đổi khí hậu từ nguyên nhân phát thải CO 2là: Giảm phát thải bằng công nghệ sạch với chỉ tiêu định mức phát thải cho phép, và tăng hấp thụ CO 2, tăng lưu giữ CO 2bằng phục hồi rừng và cây xanh.
2. Rừng và thay đổi khí hậu
Rừng và cây xanh sinh trưởng phát triển nhờ cơ chế quang hợp, hấp thụ CO 2, tạo ra chất hữu cơ như đường bột, củi gỗ và lâm sản khác cung cấp cho đời sống con người. Có một cân bằng tự nhiên về việc phát thải và hấp thụ CO 2trên thế giới từ xưa. Song tình hình mất rừng với tốc độ rất nhanh, cộng với tốc độ phát triển công nghiệp đã phá vỡ cân bằng này làm cho tăng hàm lượng CO 2, dẫn đến tăng nhiệt độ khí quyển , tăng nhiệt độ không khí gây ra thảm hoạ môi trường. tình hình mất rừng trên thế giới đang được báo động đỏ vì chúng góp phần tới 20-25% trong nguyên nhân thay đổi khí hậu toàn cầu.
Việc tàn phá rừng diễn ra, năm này sang năm khác nên ta không có cảm giác cấp bách, ví dụ trong 10 năm (1990-2000), mỗi năm thế giới mất đi 9,391 triệu ha rừng. Những nước mất rừng nhiều nhất là : Brazin 2.309 triệu ha , Mexico0,631 triệu ha , Inđonesia1.312 triệu ha , Sudan0,959 triệu ha … Trên thế giới, số diện tích rừng tăng hàng năm rất ít, như: Trung Quốc 1.806 triệu ha, Kazakhstan 0,239 triệu ha, Mỹ 0,388 triệu ha, Nga 0,135 triệu ha…
2.1. Tác dụng của rừng theo chức năng
Con người nguyên thuỷ đã coi rừng là cái nôi phát sinh và là mái nhà cho các bộ lạc trú ngụ, lại là nơi hái lượm, săn bắn thức ăn, nước uống, củi gỗ cho cuộc sống hàng ngày. Khi công nghiệp phát triển, con người đã phá rừng lấy nguyên liệu xây thành phố để sống với bê tông, sắt thép, nhôm kính, chất dẻo. Con người hiện đại khôi phục rừng xen kẽ với thành phố, đưa rừng vào từng công trình thậm chí từng nhà ở, phòng ở. Vậy con người hiện đại đang phục hồi, bảo vệ, cải tạo rừng nhằm mục đích gì? Mục đích mà con người mong muốn rừng phục vụ được coi là chức năng của rừng theo từng mục đích của con người.
Bảng 1: Các chức năng thiết yếu của rừng phục vụ con người
TT | Chức năng của rừng | Hiệu quả mong đợi |
1 | Kinh tế | - Cung cấp gỗ , củi, thức ăn, thuốc , nguyên liệu song mây tre nứa, làm giấy, dầu nhựa |
2 | Xã hội | - Công việc làm xoá đói giảm nghèo - Phúc lợi nghỉ dưỡng, giáo dục môi trường, du lịch, nghiên cứu |
3 | Môi trường | - Bảo tồn đa dạng sinh học - Điều chỉnh nguồn nước, cải tạo đất, chống xói mòn thanh lọc không khí,tiếng ồn, cải thiện môi trường sống |
Phòng chống thiên tai | - Chống sóng biển, bão biển , cát bay - Giảm thiều tác hại của hạn hán, bão lụt thiên tai | |
4 | Hạn chế thay đổi khí hậu | - Hấp thụ CO 2không khí, lưu trữ - Ngăn cản trái đất nóng lên, nước biển dâng cao. |
Theo thuyết minh trong Bảng 1 thì rừng tạo ra các lợi ích trực tiếp bằng vật chất như cung cấp thực phẩm, nguyên liệu, thuốc và cung cấp lợi ích phi vật chất như dịch vụ việc làm, phúc lợi cho người dân đồng thời cũng tạo ra các lợi ích gián tiếp cho con người như khả năng cải tạo các môi trường đất, nước, không khí, phòng chống thiên tai và thay đổi khí hậu.
2.2. Hậu quả của phá rừng
Như đã trình bày ở phần 1 và 2, rừng muốn phát huy được các chức năng phục vụ xã hội loài người nó phải có đủ điều kiện sau đây:
- Một là đủ về số lượng, nghĩa là có diện tích tối thiểu hay tỷ lệ độ che phủ 25-30% ở các vùng lãnh thổ hay quốc gia có địa hình bằng phẳng ít thiên tai, hoặc 40-50 % cho các quốc gia nhiều núi dốc, ven biển, nhiều vĩ độ.
- Hai là rừng phải có mặt ở những nơi xung yếu nhu đầu nguồn nước, nơi dốc cao, ven biển sóng cao bão lớn v.v…
- Ba là rừng có cấu trúc tổ thành phù hợp các chức năng mà nó đảm nhiệm
Vậy ta thử liên hệ thực tế Việt Nam trong giai đoạn mất rừng nghiêm trọng nhất (trước 1990-1995) theo trình tự chức năng trong bảng 2.
(1) Về kinh tế:
Trước 1975 người dân sống trong rừng gần rừng đều được xin gỗ làm nhà và dân dụng, nay cả vùng trung du đồi núi đã mất rừng, rừng còn lại cũng chỉ là rừng nghèo hoặc rừng non nên không được cấp gỗ nữa thậm chí chỉ được thu hái củi khô, cây chết. Việc thu hái măng tre, cây thuốc cũng được cộng đồng phân chia theo mùa, theo ngày vì tài nguyên cạn kiệt.
- Không đủ gỗ để chế biến xuất khẩu, từ năm 2000 đến nay chỉ khai thác 0,3 triệu m 3gỗ lớn trong rừng tự nhiên và khoảng 2 triệu m 3gỗ nhỏ rừng trồng, trong khi cần 1,5-1,8 triệu m 3gỗ lớn để chế tạo đồ mộc xuất khẩu, vì vậy đã phải nhập khẩu 70-80 m 3gỗ lớn. Thế mạnh của ngành công nghiệp xuất khẩu đồ gỗ không còn; ngành công nghiệp đồ gỗ trở thành ngành công nghiệp gia công. Lợi thế tăng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ lên 1,5-2,0 tỷ USD bị sút kém do rừng đã cạn kiệt, suy giảm, không cung cấp được nguyên liệu.
- Ngay cả cây thuốc, song mây tre trúc cũng giảm thiểu theo mất rừng chứ không còn là nguồn hỗ trợ cho cộng đồng dân cư miền núi nữa.
(2 )Về xã hội:
- Trước đây rừng là nguồn hậu thuẫn kinh tế phụ cho cộng đồng dân cư khi giáp hạt hoặc mùa nhàn rỗi. cách thu hái tận dụng bóc lột thiên nhiên khiến rừng thêm nghèo kiệt, hạn chế công ăn việc làm của người dân. Các chủ rừng nhà nước như Ban quản lý các khu rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường cũng không phát triển được rừng, mà chỉ lo bảo vệ, phòng chống phá hoại, săn bắt trộm nên không hoàn thành nhiệm vụ bà đỡ giúp dân có việc làm, xói đói giảm nghèo tại chỗ
- Nhà nước đã chủ trương giao rừng cho cộng đồng thôn bản bảo vệ, gây trồng và sử dụng, song để tạo ra công việc làm và tăng thu nhập cho người dân cũng còn cần thời gian và hỗ trợ vì rừng giao cho cộng đồng hiện chỉ còn rừng nghèo kiệt.
(3 )Môi trường và phòng chống thiên tai:
- Thực tiễn 10 năm gần đây cho thấy thảm hoạ lớn đã xảy ra đối với các vùng mất rừng lớn chỉ còn lại đất trống đồi núi trọc như các trận lụt liên tiếp tại Thừa Thiên Huế. Các tỉnh Nghệ An đến Quảng Trị vừa qua hết lụt lội lại đến hạn hán, đến mức tỉnh phải cấp kinh phí để chở nước ăn cho dân bị hạn. Mất rừng ngập mặn, Sóng biển đã đánh vỡ đê ngăn mặn các tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hoá năm 2006, nước mặn tràn vào vỡ cả đập đại thuỷ nông Cửa Đạt, và bao nhiêu nỗi khủng khiếp ngập lụt liên tiếp ở miền Trung từ Quảng Ngãi đến Khánh Hoà, từ Nghệ An đến Quảng trị, nơi mà rừng đã mất ở vùng đồi núi trung du, nơi mưa lớn tập trung 1 mùa ngắn, đất dốc, sông ngắn, không còn rừng để thấm nước mưa thành dòng chảy ngầm nữa.
- Ai cũng biết mất rừng đầu nguồn các hồ thuỷ điện bị bồi lấp, lượng nước tích luỹ không còn đủ xả cho thuỷ nông và cho phát điện, gây ra nạn thiếu điện triền miên vào mùa khô trên cả nước.
- Đa dạng sinh học bị suy thoái nghiêm trọng, trong khi phát hiện thêm được các loài mới (Mang lớn, Sao la..) thì bao nhiêu loài cây loài con khác trở nên hiếm và nguy cơ tuyệt chủng phải báo động bằng cách đưa vào sách đỏ và đưa vào Nghị định số 32CP để cấm săn bắt, chặt hạ, sử dụng.
(4) Hạn chế thay đổi khí hậu
- Loài người đang đứng trước nguy cơ tăng nhiệt độ, tan băng làm dâng mực nước biển . Nguyên nhân gây tăng nhiệt độ là do hiệu ứng khí nhà kính. Có thể hiểu rằng nồng độ CO 2trong không khí càng tăng thì nhiệt độ không khí cũng tăng với tốc độ tương ứng. Với đà tăng CO 2hiện nay thì đến năm 2050, nhiệt độ sẽ tăng tới 4-5 oC, nước biển sẽ tăng khoảng 1m. Ở Việt Nam đồng bằng sông Mê Kông chỉ cao hơn mặt nước biển trung bình 0,5 -1,0 m sẽ chìm dưới nước biển vì vậy Việt Nam được cảnh báo là 1 trong 5 nước chịu hậu quả nặng nhất do khi hậu thay đổi.
- Tình trạng tăng hàm lượng CO 2trong không khí là do 2 nguyên nhân sau đây: một là công nghiệp và đời sống phát triển cộng với cháy rừng làm tăng lượng CO 2với tốc độ ngày càng nhanh; hai là năng lực hấp thụ CO 2trong không khí do cây xanh trong quá trình quang hợp ngày càng giảm do nạn phá rừng, nhất là rừng nhiệt đới.
Theo số liệu của FAO (2007) thì chỉ trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX thế giới đã bị mất 93,91 triệu ha rừng, góp 25 % vào các nguyên nhân gây thay đổi khi hậu (riêng châu Âu là tăng 8,81 triệu ha) .
Ở Việt Nam , dự án trồng mới 5 triệu ha rừng 1998-2010 sẽ khôi phục độ che phủ rừng trở lại 43 %, tương đương diện tích 14,3 triệu ha của năm 1945. Chỉ riêng 5 triệu ha rừng này cũng đủ sức hấp thụ 50 triệu tấn CO 2/năm, ngang với lượng phát thải do công nghiệp còn rất hạn chế của đất nước.
3. Khả năng hấp thụ và lưu trữ CO 2của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Việc phục hồi 5 triệu ha rừng theo kế hoạch ( gồm nhiều loại cây trồng, cây tái sinh khác nhau ) sẽ hoàn thành vào hết năm 2010. Năng lực hấp thụ và lưu trữ CO 2của 5 triệu ha rừng này dựa trên phương pháp đo đạc tổng sinh khối thông qua biểu sản lượng theo phương pháp Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Quang Việt đã đề xuất khi hợp tác với dự án giống cây rừng DANIDA tinh toán cho 10 loài cây gỗ trồng rừng phổ biến nhất là: Bạch đàn uro, Bạch đàn camal, Bồ đề, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Quế, Teck, Thông nhựa, Thông 3 lá, Thông đuôi ngựa (công bố trong tạp chí Nông nghiệp và PTNT). Kết quả tính toán lấy làm ví dụ được thể hiện ở bảng 2.
![]() |
| Bảng 2 . Tính lượng CO2 hấp thụ và lượng O2 phóng thích của 10 loài rừng trồng |
Riêng Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, mỗi năm có khả năng hấp thụ 150 triệu tấn CO 2. Chưa tính đến 10 triệu ha rừng tự nhiên đang được bảo vệ, riêng kế hoạch trồng 5 triệu ha rừng đã hấp thụ được 1 lượng CO 2gần gấp 2 lần phát thải hàng năm của toàn quốc (khoảng 80 triệu tấn). Vì vậy Việt Nam hoàn toàn có thể bán khả năng hấp thụ CO 2cho các nước công nghiệp đang sử dụng quá hạn mức cho phép. Song, muốn chuyển tiềm năng thành hiện thực phải tham gia trồng rừng theo cơ chế sạch (CDM) đăng ký giám sát quốc tế.
Nguồn: dof.mard.gov.vn









