Đột phá cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi (TĂCN) các tỉnh miền núi phía Bắc
Khu vực miền núi phía Bắc có 15 tỉnh, mấy năm gần đây chăn nuôi đại gia súc đang được nông dân chú trọng phát triển, bởi đây là nghề truyền thống, phù hợp với phong tục tập quán, trình độ và khả năng kinh tế của mỗi hộ. Ngô và đậu tương là hai loại cây làm nguyên liệu thức ăn tinh phục vụ chăn nuôi, bên cạnh đó là các giống cỏ đang được trồng rộng rãi ở nhiều địa phương. Theo thống kê chưa đầy đủ năm 2007 sản lượng ngô toàn quốc đạt 4,1 triệu tấn, chỉ đáp ứng 85% nhu cầu SX thức ăn chăn nuôi trong nước. Như vậy, năm 2007 cả nước phải nhập khẩu 585.000 tấn ngô, 1.925 tấn khô dầu đậu tương làm thức ăn chăn nuôi. Việc phát triển cây nguyên liệu phục vụ chăn nuôi ở khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc đang đặt ra nhiều câu hỏi cho các địa phương không chỉ đảm bảo chăn nuôi tại chỗ mà còn cung cấp cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc trên toàn quốc.
Diện tích ngô năm 2007 của toàn vùng khoảng 400.000 ha, tăng hơn 20.000 ha so với năm 2006, trong đó ngô đông trên đất ruộng, bãi bồi ven sông, ven suối khoảng 60.000 ha tập trung ở các tỉnh: Tuyên Quang 6.000 ha, Yên Bái 6.000 ha, Thái Nguyên 9.000 ha, Bắc Giang 11.000 ha, Phú Thọ 14.500 ha… Ngô xuân hè trên đất nương rẫy và đất ruộng 1 vụ khoảng 200.000 ha, ngô hè thu khoảng 14.000 ha. Năng suất trung bình 30 tạ/ha, sản lượng khoảng 1,2 triệu tấn, tăng 150.000 tấn so với năm 2006. Tỉnh Sơn La từ nhiều năm nay được coi là “thủ phủ” trồng nhiều giống ngô lai của khu vực, nhiều địa phương cây ngô phát triển quá “nóng” đang báo động suy thoái đất đai và môi trường. Diện tích cây đậu tương toàn vùng đạt 74.000 ha, tăng 6.000 ha so với năm 2006, sản lượng khoảng 90.000 tấn, nhiều giống đậu tương có năng suất cao, như DT84, ĐVN-5, DT2001, ĐT22, ĐVN-6… được trồng với diện tích lớn.
Đây là hai loại cây nguyên liệu chính để SX thức ăn chăn nuôi tinh, các giống cỏ phục vụ chăn nuôi đại gia súc Guatemala, Brachiaria decumbens, cỏ voi lai VAO6, cỏ lá sả lớn, cỏ Ruzi… đang được nông dân các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Cạn… trồng với diện tích khá lớn. Tuy nhiên, việc trồng cỏ để chăn nuôi mới chỉ tập trung ở một số địa phương do thiếu đất canh tác, những địa phương diện tích chăn thả lớn thì việc trồng cỏ là chuyện rất xa lạ đối với bà con.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Vũ Văn Tám: Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đẩy mạnh phát triển cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là một trong 9 Chương trình trọng điểm Bộ NN-PTNT triển khai trong năm 2008. Các địa phương có thể yên tâm về các giống ngô, giống đậu tương ngoại nhập và các giống kỹ thuật trong nước có năng suất cao cũng như 19 bộ giống cỏ phù hợp đối với khu vực miền núi. Tuy nhiên, việc phát triển cây nguyên liệu làm thức ăn cho chăn nuôi các địa phương cần có chính sách hỗ trợ và tổ chức hệ thống bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Ngoài ra, cần có sự kết nối giữa các doanh nghiệp và nông dân trong việc thu mua, bảo quản và chế biến, sao cho giá thu mua sản phẩm có lợi cho nông dân, bớt được các khâu trung gian cũng như cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho người dân… |
Việc phát triển cây nguyên liệu phục vụ chăn nuôi mang lại thu nhập cho người dân không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều. Mặc dù khu vực miền núi phía Bắc hiện còn 180.000 ha ruộng một vụ bỏ hoang, đây là tiềm năng đất đai đang bị lãng phí, nhưng để chuyển diện tích này sang trồng ngô và đậu tương là rất khó. Bởi tập quán canh tác truyền thống của bà con từ bao đời nay chỉ làm một vụ, do nơi đây chỉ trông đợi vào nước trời, dẫu muốn tăng vụ cũng không thể làm được.
Mặc dù khu vực miền núi phía Bắc trong nhiều năm qua là trung tâm cung cấp nguyên liệu cho SX thức ăn chăn nuôi với hơn 2 triệu tấn ngô, đậu tương, sắn lát khô… , nhưng do giá thu mua đối với người nông dân rất thấp, ngô mua tại ruộng chỉ 1.800 - 2.000 đ/kg, 1.200 - 1.500 đ/kg sắn lát khô nên không khuyến khích nông dân phát triển. Hơn nữa, tại một số tỉnh trọng điểm SX ngô hàng hóa như Sơn La, Lào Cai… các DN thu mua vận chuyển về các tỉnh đồng bằng để chế biến, nên giá thu mua của nông dân rất thấp. Việc bà con bị tư thương chèn ép giá là điều không tránh khỏi.
Việc phát triển cây nguyên liệu phục vụ chăn nuôi cần có lộ trình cụ thể mà mỗi địa phương phải căn cứ vào diện tích đất đai, điều kiện canh tác, trình độ thâm canh của nông dân để mở rộng diện tích. Mỗi vùng tùy theo tình hình thực tế phát triển cây nguyên liệu cung cấp thức ăn tinh cần phát triển diện tích trồng cỏ, tận dụng phế liệu SX nông nghiệp để chế biến thức ăn cho gia súc, nhất là hiện nay giá thức ăn chăn nuôi tăng 20%. Các địa phương cần có chính sách hỗ trợ giống mới, xây dựng các mô hình để khuyến khích người nông dân mở rộng diện tích, thâm canh tăng năng suất cây trồng.








