Mùa đông, sâu non nằm ở dưới đất, nấm ký sinh vào đầu con sâu, làm cho sâu chết. Đến mùa hè, hệ sợi nấm trong con sâu tạo thành thể quả mọc chồi lên khỏi mặt đất. Đầu trên của thể quả hơi phình to, đó là nơi mang các túi bào tử nhỏ, trong túi có chứa các bào tử; phần gốc của thể quả này vẫn dính liền vào đầu con sâu (trông như con tằm khô), mặt ngoài màu vàng sẫm hoặc vàng nâu, đầu màu đỏ nâu, dài 3 - 4 cm, đường kính 3 - 5mm, có đôi 8 chân, 4 đôi chân giữa nhìn khá rõ, khi khô dễ gẫy; và phần thể quả của nấm dài 4 - 7cm (có khi tới 11cm), đường kính 3mm, mặt ngoài màu nâu sẫm, có những vết nhăn dọc, chất mềm. Đông trùng hạ thảo có nguồn gốc từ Trung Quốc, thường thấy trong rừng ẩm ở tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam . Còn có ở Tây Tạng, Nepal(ở độ cao 3.800m trên dãy Himalaya). Ở Việt Nam chưa tìm thấy. Thời gian thu hái vào đầu mùa hè, khi thể quả của nấm đã mọc chồi lên khỏi mặt đất và bào tử của nó chưa thoát ra ngoài. Người ta đào lấy toàn bộ xác con xâu và thể quả của nấm. Làm sạch, phơi khô cho se, loại bỏ tạp, bó từng bó 10 - 15 con sâu, buộc dây đỏ, rồi phơi lại hoặc sấy nhẹ cho khô hẳn.
Thành phần hoá học chủ yếu của Đông trùng hạ thảo là N 6- (2-hydroxyethyl)- Adenosine, Cordycepin (3’ deoxyadenosine) và Adenosine. Ngoài ra còn có các amino axit, axit steric, D-mannitol, mycose, ergosterol, uracil, adrenine, palmitic axit, cholesterol palmitate và 5 a - 8 a - epidioxy - 5 a - ergosta - 6,22- dien - 3 b -ol.
Theo Dược điển Trung Quốc, Đông trùng hạ thảo có vị ngọt, tính bình. Nó có nhiều tác dụng như: bổ phế, ích thận, chỉ huyết, hoá đàm; chữa viêm phế quản, ho lâu ngày, hen suyễn, ho ra máu; làm giảm lượng LDL cholesterol máu, giảm đường huyết, viêm gan B, xơ gan, chữa liệt dương, hệ miễn dịch bị suy giảm, lưng gối đau mỏi. Liều dùng 3 - 9g.
