Đội quân báo thiếu niên Bát Sắt và công tác chiến lược đưa các nhân sĩ, trí thức từ Hà Nội tạm chiếm ra vùng tự do
Sự ra đời của đội quân báo thiếu niên (Đội QBTN)
Hơn 60 năm đã trôi qua, song ký ức về những ngày tháng hoạt động trong lòng địch đầy gian khổ hiểm nguy, nhưng cũng đầy mưu trí và lòng dũng cảm không bao giờ mờ phai trong tâm trí mỗi đội viên Đội quân báo thiếu niên Bát Sắt (ĐQB TNBS).
Ngày 15 - 1 - 1947 tại đình làng Giáp Nhị, Thành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội đã thành lập Đội QBTN tiểu khu Mê Linh - Đề Thám với biên chế trên 20 đội viên từ 12 đến 17 tuổi, vốn là các em liên lạc của các tiểu khu thuộc liên khu 2. Đội QBTN có nhiệm vụ trinh sát mặt trận phía Nam Hà Nội, đêm đêm theo dõi, quan sát các chốt Pháp đóng tại Ngã Tư Vọng, Ngã Tư Trung Hiền, Mai Động, Tương Mai, Vĩnh Tuy… và làm giao thông liên lạc cho các cơ quan của Liên khu 2 cũ.
Tháng 3 - 1947 Đội QBTN gia nhập Công an Quận 6 và được đổi tên là Trung đội thiếu niên Bát Sắt (*).
Mở con đường bí mật vào nội thành
Sau hai tháng rút ra từ vùng ngoại ô, đội QBTNBS rất nóng lòng quay lại sống chết với Thủ đô. Được cấp trên đồng ý, chiều ngày 19 - 2 - 1947 Đội quân tập hợp tại sân đình làng Hoàng Cung (Thanh Trì) làm lễ xuất quân, mở con đường bí mật vào nội thành nắm tình hình quân địch và tình hình nhân dân.
Ngay đêm 19 tháng 2 - 1947, một tổ 5 người xung phong đi đợt đầu, trong đó tôi là tổ trưởng, có đồng chí Nguyễn Văn Phú và 3 đội viên nữa. Xuất phát làng Hoàng cung qua Văn Điển, Cổ Điển, cánh đồng Sở Thượng, Hoàng Mai và Mai Động, chúng tôi vượt qua đường Đại La (nay là đường Minh Khai) rồi xuyên qua nghĩa trang Hợp Thiện đến bãi lầy thì rơi mất la bàn dạ quang. Vì nhiều lần chạy thư qua đây nên chúng tôi nhớ địa bàn vùng này và khoảng nửa đêm thì vào đến làng Thanh Nhàn. Căng thẳng và rét buốt anh em tìm vào một ngôi nhà hoang chui ào, lăn ra ngủ bất chấp chân bùn bẩn và muỗi đốt.
Sáng 2 tháng 2, chúng tôi chia nhau đi các ngả, mỗi nhóm 2 người đi trinh sát làng Quỳnh Lôi và bốt Mai Động, đồng chí Phú được phân công đi lên phía hồ Hoàn Kiếm thăm dò tình hình địch và cuộc sống của những người dân bị kẹt lại trong nội thành. Đêm 2 tháng 2, chúng tôi quay ra đền Lừ báo cáo cấp trên “Con đường bí mật vào địch hậu đã mở”. Cấp trên lệnh cho tổ quay lại Hà Nội ngay đêm đó để tiếp tục tiến vào nội thành.
Hoạt động trong lòng địch
Để có điều kiện sống hợp pháp giúp cho việc triển khai hoạt động tình báo, có đội viên dưới vỏ bọc là học sinh mất liên lạc với gia đình khi chiến tranh nổ ra, nay trở về nội thành tìm người thân phải nương náu nhà người quen; một vài đội viên khác núp danh người giúp việc gia đình hoặc làm nghệ tự do (làm thuê, bán báo, câu cá, xúc tôm để bán…). Ngoài công việc thường xuyên là chuyển tài liệu báo chí, rải truyền đơn, tờ rơi… Đội QBTNBS có nhiệm vụ chiến lược là xây dựng cơ sở trong số thanh niên yêu nước, quần chúng tốt để họ cung cấp thông tin nắm được ý đồ chiến lược của địch và bảo vệ con đường liên lạc của đơn vị.
Hà Nội là trung tâm đầu não của quân Pháp chỉ huy cuộc chiến tranh xâm lược. Biết tin Công an Hà Nội đã đưa được lực lượng bí mật vào nội thành, theo cố Giám đốc Nha Công an Việt Nam Lê Giản kể lại, Bác Hồ đã giao cho Công an nhiệm vụ phải đưa người vào nắm tình hình. Nha Công an Việt Nam cũng được tin Bác đã huy động các cán bộ cao cấp trong Chính phủ kháng chiến như các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Duy Hưng, Tôn Thất Tùng, Hoàng Minh Giám, Vũ Đình Tụng, Vũ Văn Cẩn… viết thư vận động các nhân sĩ trí htức còn bị kẹt lại trong nội thành Hà Nội thu thập tin tức địch và không hợp tác với Pháp. Tôi là đội viên đầu tiên đã chuyển các thư này cho vợ chồng Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bác sĩ Trần Văn Lai, Luật sư Vũ Văn Hiền, Kỹ sư Đặng Phúc Thông, Bác sĩ Phạm Biểu Tâm… Lúc này ông Phạm Khắc Hoè tá túc cùng hai con trai tại nhà Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, đang bị Pháp mua chuộc và o ép phải giúp Pháp lôi kéo cựu hoàng Bảo Đại về nước lập Chính phủ bù nhìn. Kỹ sư Đặng Phúc Thông cũng bị chính quyền thực dân dụ dỗ sang Pháp làm việc, không hợp tác với Việt Minh. Đồng chí Phạm Quang Am, Công an Quận 6, hoạt động bí mật trong nội thành thời kỳ này đã có lần liên hệ và nhận bản báo cáo của kỹ sư Đặng Phúc Thông, tường trình về cuộc gặp gỡ đặc phái viên của tướng Sainteny để chuyển ra vùng tự do.
Lúc đó Bác Hồ chủ trương những nhân sĩ trí thức nào muốn ra công tác ở vùng tự do thì tổ chức sẽ đưa các vị đó ra. Vì bị lộ nên tháng 5 - 1947, tôi rút ra vùng ngoại vi làm nhiệm vụ khác. Đồng chí Đặng Đình Kỳ, Công an Quận 6, tiếp tục liên hệ và tổ chức đưa các nhân sĩ trí thức ra khỏi Hà Nội tạm chiếm. Sau một thời gian chuẩn bị, đêm 25 tháng 8 - 1947, Đội QBTNBS đã dẫn đường Đội Thanh Việt của Công an quận 6 đưa gia đình kỹ sư Đặng Phúc Thông ra chiến khu Việt Bắc. Đồng chí Phú là người trực tiếp dẫn đường đã kể lại trong Hồi ký như sau: “… Tôi được giao nhiệm vụ đi “xích hầu”, tức là đi trước dẫn đường và dọn đường phòng bị kẻ địch phục kích hoặc có bất trắc xảy ra vì tôi thuộc đường quen địa hình, nhanh nhẹn. Được trang bị một quả lựu đạn mỏ vịt có nhiệm vụ đi trước ở cự ly cách 100 - 200 m. Khởi điểm từ làng Lạc Trung, tôi đi trước còn anh em CAXP và Đội Z đi kèm sát, bảo vệ và giúp đỡ gia đình khi qua sông ngòi, dìu người yếu, cõng người đi chậm qua nơi khó khăn. Từ khoảng 8 giờ sáng hôm sau mới từ Lạc Trung ra tới Ngọc Hồi. Chiến luỹ Ngọc Hồi, ban ngày địch ở Văn Điển dùng ống nhòm nhìn rõ nên dễ bị sát thương do pháo cối, trọng liên địch bắn xuống. Đi qua quãng đường khoảng 10 km chỉ với vận tốc 1 km/ giờ vì vừa tìm cách tránh bị địch theo dõi, phát hiện. Còn từ Ngọc Hồi về căn cứ Nhị Khê khoảng 7 km trên địa bàn ta kiểm soát nên có thể đi ban ngày và đường số 1 dễ đi, tuy đã được đào hố chữ chi để chống xe tăng và cơ giới khi địch tấn công. Vừa đi vừa nghỉ khoảng 8 giới tới Nhị Khê. Sau đó ít ngày thì gia đình được đưa lên căn cứ kháng chiến Việt Bắc…”.
Qua báo chí và đài phát thanh, chúng tôi được biết Bác Hồ và Trung ương Đảng rất hoan nghênh và đánh giá cao sự trở về với cách mạng, với kháng chiến của các nhân sĩ trí thức yêu nước. Đó cũng là một chiến công có sự đóng góp không nhỏ của Đội quân báo thiếu niên Bát Sắc.
(*) Bát Sắt là tên đặt cho một thiếu niên miền Bắc tình nguyện tham gia đội quân Nam tiến. Em đã hy sinh tại mặt trận Nha Trang khi đơn vị chưa biết tên em, đành lấy tên em là Bát Sắt em đeo trên hông suốt thời gian tham gia chiến đấu.








