Đôi điều về hát xoan
Căn cứ nghi thức, không gian diễn xướng và một vài yếu tố khác, hát Xoan còn có nhiều tên gọi khác nhau. Chính xác là hát Xuân, hát vào mùa xuân nhưng kỵ húy các vị thần có tên là Xuân nên gọi chệch đi thành hát Xoan; sau mỗi bài bản trong phần hát các quả cách thường dùng tiếng đệm lên lễ là lên để kết nên gọi là hát Lãi lèn; trong quá trình diễn xướng, một số nơi có xen lối chơi đúm nên còn gọi là hát Đúm.
Thường, sau tết Nguyên đán, các phường xoan đến các đình kết nghĩa để hát thờ và vui chơi lễ hội. Thành viên trong mỗi phường Xoan thường từ 15 đến 18 người, tuổi khoảng mười tám đôi mươi, trai gọi là kép, gái là đào. Số đào bao giờ cũng đông hơn số kép, để minh họa múa cho hát, và ứng đáp với trai làng trong các màn hát giao duyên.
Do là lối hát cửa đình nên hát Xoan chỉ hát vào những ngày hội đám, tế thần. Bởi vậy, hát Xoan thuộc về hát nghi lễ với bài bản và tiến trình nghiêm ngặt. Tuy nhiên, lề lối của hát xoan hoàn toàn không cứng nhắc như vậy. Bên cạnh lối hát diễn xướng trong một ngày một buổi, còn có lề lối hát mở rộng trong vài ba ngày, nghĩa là có sự đan xen giữa lề lối và ngoài lề lối nếu có yêu cầu của làng đến hát.
Khi phường Xoan đến đình làng có lễ hội, sau khi làm xong thủ tục rước thành hoàng làng và các nghi lễ khác thì cuộc hát bắt đầu.
Đầu tiên là Hát chúc, đây là một bài văn vần diễn xướng kiểu hát nói do ông trùm phường và ông chủ tế của làng thực hiện. Sau đó, đến tiết mục Giáo trống và Giáo pháo do người kép trẻ nhất thực hiện. Người kép trẻ đeo trống con trước bụng, đứng trước hương án vừa hát vừa nhảy múa, các đào đứng ở hai bên hát đế. Khi kép vào, bốn cô đào bước ra xếp hàng ngang, tay cầm quạt như đang dâng hương và hát bài Thơ nhang. Xong thơ nhang là đến bài Đong đám do các đào kép của phường diễn xướng. Tiết mục này, cơ bản, đã kết thúc chặng đầu của cuộc hát.
Chặng thứ hai trình diễn các quả cách. Các nghệ nhân giải thích quả là một áng văn, một bài bản dài, còn cách là lối hát, bài bản cụ thể. Chặng này ông trùm ngồi trước hương án, tay cầm dùi phách, trước mắt để quyển sách chữ Nôm chép 14 quả cách và lần lượt hát, các cô đào hát phụ họa. Các quả cách được diễn theo thứ tự: Kiều giang cách - Nhàn ngâm cách - Tràng mai cách - Ngư, tiều,canh, mục cách - Đối dãy cách - Hồi liên cách - Xoan thời cách - Hạ thời cách - Thu thời cách - Đông thời cách - Tứ mùa cách - Tứ dân cách - Chơi dâu cách. Ở mỗi quả cách khi diễn xướng thường có bố cục ba phần rõ ràng, đó là Giáo cách (còn gọi là Bỉ đầu) do người dẫn hát; Đưa cách do người kép dẫn hát là một đoạn dài, các đào đệm theo phụ họa; Kết cách, thường chỉ là một câu ngắn do đào thực hiện…
Chặng thứ ba là phần hát các giọng vặt, có múa phụ họa cùng các trò chơi gắn với tiết mục - được thực hiện giữa các cô đào và trai làng. Chặng này gồm các tiết mục: Bợm gái, do các cô đào vừa hát vừa minh họa, nhiều lời nhưng chỉ hát trên một điệu, ngoài khấn cầu đã có thêm cả nội dung giao duyên; Bỏ bộ, khi hát có cả động tác phụ họa, gồm nhiều lời với nhiều điệu khác nhau; Xin hoa - đố chữ, các cô đào đứng đối diện với trai làng hát đối đáp lẫn nhau; Gài hoa, do các cô đào và trai làng vừa hát vừa kết đội hình tượng trưng như bông hoa, điệu hát ngâm mà lời ca chủ yếu dựa trên thể thơ 6/8.
Chặng cuối cùng thường bằng phần kết với các trò múa hát: Đánh cá, các cô đào cầm tay trai làng thành vòng tròn, ông trùm đứng bên hát lời giáo đầu, sau đó một hồi trống vang lên và người kép lại hát tiếp một đoạn, bài được hát theo kiểu nam xướng nữ xô, giống như bài ca lao động, cuộc hát có thể kéo dài ngắn tùy ý, chỉ khi nào cá (chàng trai vào vai) bị mắc lưới dâng lên cung tiến vua thì mới kết thúc, đây là trò chơi hấp dẫn nhất trong lễ hội có hát Xoan; Hát đúm, không gắn với tín ngưỡng nên nó được tách ra một lối chơi riêng, do vậy không phải làng nào có cửa đình cũng có chơi đúm, một trò chơi được cấy ghép vào làm cho màu sắc của lễ hội thêm phần phong phú.
Như bất cứ một sản phẩm văn hóa dân gian nào khác, hát Xoan cũng có những truyền thuyết, huyền thoại để lý giải về nơi phát tích và lịch sử phát triển của nó. Qua mỗi truyền thuyết, huyền thoại chúng ta lại thấy được những tín hiệu lớp lang văn hóa trong bề dày của thời gian...
Những truyền thuyết, huyền thoại kết hợp với lời ca, âm nhạc, và các trò chơi trong lễ hội… đã hé mở nhiều điều. Đó là lịch sử của hát xoan đã tồn tại lâu đời khoảng 4000 năm, hoặt ít ra là cũng từ thế kỷ XII. Lối hát này chỉ có thể sinh ra và gắn chặt với việc tế thần cầu mong cuộc sống no đủ, nó là bộ phận không thể thiếu trong lễ hội của cư dân vùng đất tổ xưa.
Nhìn vào mối quan hệ giữa các làng và các phường xoan, tục tế thần cũng như một số bài bài, trò diễn trong nghi thức của hát xoan, chúng ta có thể thấy trong đó chứa đựng một số dấu ấn của tín ngưỡng tô tem (tín ngưỡng thờ vật tổ) và một vài tín ngưỡng tương tự như thờ thần lúa, thần lửa. Cái nổi bật trong hệ tín ngưỡng của hát xoan là tín ngưỡng thành hoàng, bên cạnh đó còn có các tín ngưỡng thờ vật linh, tín ngưỡng phồn thực… Có thể nói rằng, tục hát Xoan chứa đựng trong nó nhiều tầng văn hóa. Nó là sản phẩm văn hóa dân gian vô cùng quý giá của cư dân vùng đất Tổ xưa và nay.
Nguồn: hoidantochoc. org.vn (14/12/05)








