Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/10/2010 18:15 (GMT+7)

Đôi điều suy nghĩ về quá trình hình thành, phát triển của tôn giáo học ở Việt Nam hiện nay

Dù tôn giáo là hiện tượng xã hội đã xuất hiện rất sớm trong xã hội loài người, nhưng so với các môn khoa học khác, Tôn giáo học lại ra đời khá muộn. Người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học này là nhà Đông phương học người Đức Friedrich Max Muller (1828 - 1900). Với cuốn sách "Bàn về Tôn giáo học" xuất bản năm 1873, ông được coi là người khởi đầu chính thức của Tôn giáo học phương Tây.

Đến nay, đã hơn một trăm năm với tư cách là môn khoa học độc lập, Tôn giáo học: "Vẫn còn quá trẻ, chỉ giống như một chàng "thiếu niên về tư tưởng, mới nhú lông tơ", nhưng đang là môn khoa học đầy triển vọng. Những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, Tôn giáo học được sự quan tâm của các nhà khoa học ở nhiều quốc gia.

Mỹ, Californialà nơi nổi tiếng với Tôn giáo học lịch sử và Tôn giáo học hiện tượng. Nơi đây đã trở thành trung tâm nghiên cứu Tôn giáo học không chỉ có uy tín ở Mỹ mà còn cả trên thế giới. Ngoài ra, các học giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đại học Havard (Mỹ) là những chuyên gia có trình độ khá cao về Tôn giáo học. Giáo sư W.C. Smith - một học giả nổi tiếng - là Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo thế giới thuộc đại học Havard làm hạt nhân, hình thành nên học phái Havard nghiên cứu Tôn giáo học Bắc Mỹ.

Tại Pháp, ở Paris từ năm 1885 đã thành lập "Trung tâm Nghiên cứu lịch sử tôn giáo", sau đó thành lặp "Viện Nghiên cứu lịch sử tôn giáo" thuộc một trường đại học Nhân văn. Nước Pháp, vốn là nơi khởi nguồn của xã hội học phương Tây, đã sản sinh ra nhiều nhà xã hội học tôn giáo nổi tiếng trên thế giới.

Tôn giáo học Thụy Điển bắt đầu nổi lên từ năm 1893 và trở thành một trong những nước có uy tín trong giới nghiên cứu Tôn giáo học. Những năm 50 của thế kỷ XX, Thụy Điển đã thành lập ra bộ môn "Nhân loại học tôn giáo" tại Stockholm, làm cho nó trở thành một nhánh trong lĩnh vực nghiên cứu của Tôn giáo học.

Nước Anh, ngoài những nơi như Oxford đã từng tiến hành nghiên cứu việc kết hợp Tôn giáo học với nhân loại học, Đông phương học với Ấn Độ học... Tôn giáo học đã thành một bộ môn khoa học độc lập nổi lên đầu tiên ở các trường đại học Scotlen. Đầu thế kỷ XX, Đại học Oxford cũng có giảng về "Tôn giáo tự nhiên và tôn giáo so sánh".

Ở Italia, từ năm 1886 bắt đầu xây dựng chương trình Tôn giáo học.

Còn ở Đức - quê hương của người khởi sinh ra Tôn giáo học Friedrich Max Muller - thì năm 1910, tại Berlin đã thành lập bộ môn Tôn giáo học, Đại học Marburg trở thành nơi được người ta gọi là "Thánh địa của Tôn giáo học Đức".

Ở Hà Lan, một Hội nghị Lịch sử Tôn giáo quốc tế lần thứ 7 (năm 1950, tại Hà

Lan) đã đánh dấu sự ra đời chính thức của tổ chức Tôn giáo học có tính quốc tế với những cơ cấu mà nó thiết lập.

Tuy Tôn giáo học xuất hiện ở phương Tây, nhưng phương Đông, như ở Trung Quốc cũng đã từng nghiên cứu tôn giáo với ý nghĩa khoa học. Tôn giáo học ở

Trung Quốc đã có mầm mống từ khi giao thời giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX.

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, nghiên cứu tôn giáo của giới học thuật Trung Quốc đã hình thành hai phương hướng lớn khác nhau. Đó là tìm tòi nghiên cứu lý luận tư tưởng và khai thác nghiên cứu sử liệu. Đây được coi là hai hướng mở đầu của nghiên cứu lịch sử tôn giáo và nguyên lý Tôn giáo Trung Quốc hiện đại Kể từ đầu thế kỷ XX đến năm 1949, giới học thuật Trung Quốc đã cho ra đời một loạt những thành quả quan trọng về nghiên cứu lý luận cơ bản về tôn giáo, hệ thống tôn giáo và nghiên cứu các tôn giáo lớn. Nghiên cứu tôn giáo Trung Quốc dần dần phát triển một cách có hệ thống, cơ bản và ngày càng chuyên nghiệp hóa. Từ năm 1949 đến thời "Cách mạng văn hóa", giới học thuật Trung Quốc, đã bắt đầu thảo luận lại về vấn đề lý giải tôn giáo. Nhưng cho đến khi kết thúc "Cách mạng văn hóa", những cuộc thảo luận này cơ bản vẫn nằm trong phạm vi về nhận thức trên phương diện chính trị và lĩnh vực hình thái ý thức.

Từ năm 1977, giới học thuật Trung quốc qua thời "Cách mạng văn hóa" đã có điều kiện để nghiên cứu tôn giáo và dần dần xuất hiện những cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu sâu về tôn giáo. Như năm 1977, viện Khoa học Xã hội Trung Quốc được thành lập và hình thành viên Nghiên cứu Tôn giáo thế giới trực thuộc Viện.

Đến năm 1997, nhiều trường đại học ở các tỉnh, thành phố thành lập các tổ chức chuyên nghiên cứu tôn giáo, như: Đại học Vũ Hán cũng mở khoa Tôn giáo học; đại học Nhân dân Trung Quốc, đại học Dân tộc trung ương, đại học Thượng Hải, đại học Sư phạm Phúc Kiến, đại học Trung Sơn Quảng Châu, đại học Vân Nam, đại học Trịnh Châu, Hàng Châu, đại học Sơn Đông, Hoa Đông, Học viện Giáo dục Thượng Hải, đại học Sư phạm Hoa Trung, đại học Sư phạm Cáp Nhĩ Tân, đại học Sư phạm Thiểm Tây, đại học Nội Mông, đại học Tô Châu,... Như vậy, từ việc thành lập viện, khoa hoặc trung tâm nghiên cứu chuyên nghiệp về tôn giáo như trên, tôn giáo được nhìn nhận như một môn khoa học độc lập ở Trung Quốc.

Từ năm 1980 (đặc biệt sau năm 1982) trở lại đây, cơ quan chuyên nghiên cứu tôn giáo của giới học thuật Trung Quốc đã xuất hiện ngày càng nhiều.

Vào năm 1978, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc thành lập Viện Nghiên cứu sinh, khoa Tôn giáo học của viện này lần đầu tiên trên toàn quốc mở lớp nghiên cứu sinh chuyên nghiệp nghiên cứu tôn giáo, bắt đầu chú ý đến công tác đào tạo những người nghiên cứu Tôn giáo học một cách hệ thống. Năm 1979, "Hội nghị qui hoạch nghiên cứu Tôn giáo học toàn quốc" được triệu tập, Tôn giáo học là bộ môn có qui hoạch riêng và ngang hàng với các bộ môn khoa học xã hội và khoa học nhân văn khác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội Trung Quốc.

Từ những năm cuối thập niên 70 (thế kỷ XX), Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách, mở cửa. Từ đó đến hay thành quả nghiên cứu của Tôn giáo học thu được rất to lớn. Trong lĩnh vực nghiên cứu tổng hợp Tôn giáo học, thành quả chủ yếu của nó bao gồm: "Từ điển tôn giáo" (Nhiệm Kế Dũ chủ biên, năm 1981, hiện đã tái bản có bổ sung và đổi tên thành "Tôn giáo đại từ điển", xuất bản năm 1988), "Khái quát tình hình các tôn giáo" (năm 1984), "Trung Quốc đại bách khoa thư - Tôn giáo" (năm 1988), "Sổ tay công tác tôn giáo" (Tôn Hồng Thao chủ biên năm 1989), "Tri thức cơ bản về công tác tôn giáo (Vương Tác An chủ biên, năm 1990), "Tôn giáo kinh sách tuyển biên" (La Trúc Phong, năm 1992), "Tôn giáo bách khoa toàn thư, năm 1993", "Thế giới tôn giáo tổng lãm" (năm 1993), "Tôn giáo Trung Quốc ngày nay" (Chu Việt Lợi chủ biên, năm 1994. Lý giải tôn giáo của TS Trác Tân Bình - người dịch Trần Nghĩa Phương, Nxb Hà Nội, năm 2007.

2. ở Việt Nam , Tôn giáo học ra đời còn muộn hơn nhiều so với các nước trên thế giới. Tác phẩm "Tôn giáo" của Đào Duy Anh, xuất bản năm 1929, dược coi là một trong những viên gạch đầu tiên tạo dựng ngành Tôn giáo học ở Việt Nam. Như vậy, mãi nửa đầu thế kỷ XX, Tôn giáo học mới xuất hiện ở nước ta, nhưng rồi môn khoa học này lại bị chững lại trong một thời gian dài.

Trải qua hai thời kỳ chiến tranh kháng chiến chống Pháp và Mỹ giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, tôn giáo bị thực dân, đế quốc lợi dụng phục vụ cho mục đính chính trị phung phá cách mạng. Do hoàn cảnh lịch sử ấy mà tôn giáo thường ít lược xem xét dưới góc độ khoa học mà thường đậm màu sắc chính trị với không ít những biểu hiện tả khuynh.

Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đòi hỏi cần đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới nhận thức về tôn giáo cũng được đặt ra. Nghị quyết 24-NQ/TƯ của Bộ Chính trị năm 1990 được coi là dấu mốc quan trọng về sự nhận thức mới của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo. Sau khi có Nghị quyết số 24-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, ở nước ta đã hình thành những Viện, Trung tâm, Khoa nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo. Năm 1991, Viện Nghiên cứu Tôn giáo (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam ) ra đời. Và đến tháng 5/1995, Bộ môn Khoa học về Tín ngưõng và Tôn giáo (tức Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng) thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh được thành lập.

Cuối năm 2007, Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đương đại tại trường đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được thành lập; cũng vào thời gian này, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia khu vực I, II và III đều thành lập khoa Dân tộc - Tôn giáo. Như vậy, từ năm 1991 đến nay với sự xuất hiện của các viện, trung tâm, khoa có chức năng nghiên cứu và giảng dạy, vấn đề Tôn giáo học mới dần dần hình thành và phát triển ở nước ta.

Với sự ra đời của các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo như trên, nước ta đã có sự tiến bộ về đào tạo và giảng dạy chuyên ngành Tôn giáo. Trước nhu cầu cấp bách của công tác đào tạo cán bộ chuyên ngành Tôn giáo, từ năm 1999, Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam mở các khóa đào tạo cao học chuyên ngành Tôn giáo đầu tiên ở nước ta; tiếp theo là các lớp cử nhân tôn giáo và đã đào tạo nhiều khóa nghiên cứu sinh Tôn giáo. Hiện nay, Tôn giáo học đang là môn học hấp dẫn và đã cuốn hút nhiều người nghiên cứu.

Để đáp ứng nhu cầu đào tạo và nghiên cứu, những năm qua nhiều công trình khoa học về lĩnh vực tôn giáo của cá nhân và tập thể đã xuất hiện. Ngoài một số ấn phẩm do Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng, thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản, còn có sự tham gia của nhiều nhà khoa học với những tác phẩm dịch và nghiên cứu trực tiếp về Tôn giáo học. Đó là cuốn: Tâm lý học tôn giáo của Vũ Dũng, Nxb KHXN, HN. 1998; Triết học tôn giáo (sách tham khảo) của Mel Thomson, Nxb CTQG, HN 2004; Giáo trình Tôn giáo học của Trần Đăng Sinh, Đào Đức Doãn, Nxb Đại học Sư phạm, HN 2005; Tôn giáo học nhập môn của Đỗ Minh Hợp, Nxb Tôn giáo, 2006; Tôn giáo học là gì của Trương Chí Cương (do Trần Nghĩa Phương dịch), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2007; Trác Tân Bình, Lý giải tôn giáo, Nxb HN 2007... Đó là những tín hiệu đáng mừng cho môn Tôn giáo học đang được quan tâm ở Việt Nam , những tín hiệu bước đầu rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới thì Tôn giáo học vẫn là môn khoa học còn quá mới mẻ ở Việt Nam . Vì vậy, nhiều vấn đề của Tôn giáo học cần được tiếp tục nghiên cứu.

3. Qua nghiên cứu và giảng dạy tôn giáo học, chúng tôi đặt ra mấy vấn đề cùng bàn luận sau đây:

Một là, Tôn giáo học là gì?

Tuy có cả cuốn sách của Trương Chí Cương, mà tên cuốn sách đã nêu trực tiếp: Tôn giáo học là gì? Nhưng đâu phải là mọi việc đã xong xuôi, không cần phải bàn luận thêm.

Tôn giáo học phải chăng là một bộ môn khoa học về tôn giáo và tín ngưỡng.

Khi trả lời câu hỏi đặt ra, Tôn giáo học là gì? Max Muller lại trả lời rất ngắn gọn: "Chỉ biết một coi như không biết gì cả", Ông lý giải:

- Chỉ biết một loại tôn giáo, thực ra không hiểu tôn giáo.Vì:

+ Tôn giáo là khái niệm mà ngoại diên bao quát các loại hiện tượng tôn giáo trên thế giới;

+ Tôn giáo học nhằm tìm hiểu bản chất của tôn giáo, vậy phải tiến hành nghiên cứu khoa học thật sự đối với các tôn giáo trên thế giới.

+Tôn giáo nào cũng khó tránh khỏi cho mình là "ưu việt", "bài ngoại" mà khoa học "không yêu cầu tông phái", "tôn giáo nào cũng không nên đòi hỏi được đãi ngộ đặc biệt".

- Nghiên cứu tôn giáo, các loại hiện tượng tôn giáo, đúng là phải dùng phương pháp so sánh.

- Tôn giáo không phải là "thần học", mà là "nhân học".

Có quan điểm cho rằng, Tôn giáo học mác - xít nghiên cứu tôn giáo không chỉ như là một hình thái ý thức xã hội, một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng, mà còn như một hiện tượng xã hội với kết cấu nhất định nhằm chỉ ra nguồn gốc, bản chất, chức năng cũng như các hình thức lịch sử của tôn giáo. Câu hỏi nữa đặt ra là có Tôn giáo học mác - xít hay chỉ có Tôn giáo học chung. Phải chăng giống như triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học Mác - Lênin cũng có sự khác nhau với Triết học, Kinh tế chính trị học chung? Vậy Tôn giáo học với Tôn giáo học mác - xít giống, khác nhau thế nào?

Hai là, đối tượng của Tôn giáo học là gì?

Môn khoa học về tôn giáo và tín ngưỡng hay Tôn giáo học gắn liền với nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, như: triết học, sử học, dân tộc học, khảo cổ học, văn học, tâm lý học, luật học, nghệ thuật học, mỹ học, đạo đức học v.v… Mối quan hệ giữa các môn khoa học này với khoa học về tín ngưỡng, tôn giáo là rất chặt chẽ và ranh giới cũng rất tương đối. Đây là một khó khăn cho việc xác định đối tượng của Tôn giáo học. Một số ý kiến cho rằng, nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của tôn giáo không thuộc nhiệm vụ của Tôn giáo học, mà thuộc môn Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tuy nhiên, có người phản bác lại và lập luận rằng, chủ nghĩa duy vật lịch sử khi nghiên cứu tôn giáo vẫn chủ yếu là về mặt hình thái ý thức xã hội. Còn khoa học về tôn giáo và tín ngưỡng nghiên cứu tôn giáo như một tiểu hệ thống kiến trúc thuộc thượng tầng kiến trúc, giúp ta dễ dàng thấy được mặt nào, yếu tố nào trong kết cấu của tôn giáo bộc lộ rõ tính tích cực, tiến bộ hoặc tiêu cực, phản tiến bộ khi thực hiên các chức năng của nó.

Đối tượng của Tôn giáo học phải chăng là nghiên cứu các quy luật xuất hiện, phát triển và hoạt động tôn giáo; cấu trúc và các thành tố khác nhau của nó, những hiện tượng đa dạng mà nó đã biểu hiện trong lịch sử xã hội, cùng những mối liên hệ và tác động qua lại giữa tôn giáo với các lĩnh vực khác của đời sống con người. Nội dung cơ bản của Ton giáo học là nội dung triết học.

Có ý kiến cho rằng, đối tượng của Tôn giáo học mác - xít là chỉ rõ bản chất, nguồn gốc, quy luật về sự tồn tại, biến động của tôn giáo; vai trò, ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội nhằm giữ gìn, phát huy những nhân tố tích cực và con đường khắc phục những tác động tiêu cực của tôn giáo.

Xác định về đối tượng của hai quan điểm trên là khác nhau, vì Tôn giáo học mác - xít có tính độc lập tương đối của nó.

Ba là, những bộ phận cấu thành Tôn giáo học là gì?

Tôn giáo học đã trở thành môn khoa học nhân văn với tính giao thoa của liên ngành. Mối liên hệ giữa Tôn giáo học với các ngành khoa học khác ngày càng rõ, như: Sử học tôn giáo, Khảo cổ học tôn giáo, Địa lý học tôn giáo, Nhân loại học tôn giáo, Xã hội học tôn giáo, Tâm lý học tôn giáo, Triết học tôn giáo, Tôn giáo học so sánh... Tính giao thoa điển hình là Nhân loại học tôn giáo, Xã hội học tôn giáo, Tâm lý học tôn giáo.

Quan điểm của Trác Tân Bình - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo thế giới, cũng là Hội trưởng Hội Tôn giáo học Trung Quốc, cho rằng các bộ môn của Tôn giáo học gồm:

- Sử học tôn giáo;

- Tôn giáo học so sánh;

- Hiện tượng học tôn giáo;

- Xã hội học tôn giáo;

- Nhân loại học tôn giáo;

- Địa lý học tôn giáo

- Tâm lý học tôn giáo;

- Triết học tôn giáo;

- Phê bình học tôn giáo;

- Thần học tôn giáo.

Nhiều tác giả quan niệm, những bộ phận cấu thành chủ yếu của Tôn giáo học là:

- Triết học Tôn giáo;

- Xã hội học tôn giáo;

- Tâm lý học tôn giáo

- Nhân loại học tôn giáo (hoặc hiện tượng học tôn giáo);

- Lịch sử tôn giáo.

Ngoài vấn đề cơ bản như trên, còn cần nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học, thực trạng Tôn giáo học ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Tôn giáo học với các ngành khoa học khác... cần được làm sáng tỏ. Tất nhiên không phải dễ dàng và ngay một lúc có thể làm sáng tỏ mọi vấn đề có liên quan, trong điều kiện Tôn giáo học còn non trẻ ở nước ta.

Trên thế giới, Tôn giáo học vẫn còn là môn khoa học non trẻ, huống hồ ở nước ta nó ra đời chưa được 20 năm. Tuy vậy, với sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước và toàn xã hội, hy vọng bộ môn khoa học này sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.