Đình làng Quỳnh
Từ đình làng phóng tầm mắt về 4 phía: phía trước là hòn Bảng Giáp (thuộc xã Quỳnh Bảng), phía đông nam là núi Yên Ngựa (xã Quỳnh Bá), phía nam là hòn Bút, hòn Nghiên (xã Quỳnh Ngọc), phía tây bắc là hòn Tàn, hòn Lọng (xã Quỳnh Xuân) và sau lưng là núi Hiền Hoa (thuộc xã Quỳnh Hậu). Tất cả đều chầu về hướng đình làng Quỳnh. Những người xây dựng nên công trình này tin tưởng rằng: với địa thế “phong thủy đẹp nhất trong huyện” con người nơi đây sẽ đời đời khởi sắc…
Vào năm Xương Phù thứ 2 đời vua Trần Phế Đế (1378), ông tổ 3 họ Hồ, Hoàng, Nguyễn đến khai phá và lập ra vùng đất Thổ Đôi Trang, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.
Cùng với quá trình quần cư lập làng của các cư dân nơi đây, đình làng Quỳnh đã được xây dựng. Theo tú tài Hồ Phi Hội: “Đình làng tọa Nhâm hướng Bính, từ đời nào không biết, tương truyền rằng đình làng xưa làm 5 gian rộng rãi, cao ráo trong ngoài đều làm cẩu và bằng gỗ lim to” (1).
Tuy nhiên đến năm 1859, đình làng bị hỏa hoạn thiêu rụi. Cử nhân Phạm Đình Toái, người trong làng, giữ chức tri phủ Bình Định, đã xuất 600 quan tiền túi của mình cúng làng ngôi đình mới. Đình bắt đầu xây dựng vào cuối năm Canh Thân (1860) đến đầu năm Tân Dậu (1861) thì hoàn thành. Đình bao gồm 3 gian, 2 chái, 6 hàng cột làm bằng gỗ lim lõi, hàng cao nhất 10m5. Theo lưu truyền của người dân nơi đây, khi mới dựng đình làng Quỳnh cao tới 11 m (cao hơn điện Thái Hòa trong cung nhà Nguyễn). Chuyện đến tai Tự Đức, đình lập tức bị cưa hạ bớt đi 50 phân.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngôi đình vẫn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến tận ngày nay.
Theo các nhà phong thủy xưa, vùng đất Quỳnh Đôi mang dáng dấp của “cá chép vượt vũ môn”, đình làng ở giữa giữ vị trí trung tâm. Từ đình làng phóng tầm mắt về 4 phía: phía trước là hòn Bảng Giáp (thuộc xã Quỳnh Bảng), phía đông nam là núi Yên Ngựa (xã Quỳnh Bá), phía Từ đình làng phóng tầm mắt về 4 phía: phía trước là hòn Bảng Giáp (thuộc xã Quỳnh Bảng), phía đông nam là núi Yên Ngựa (xã Quỳnh Bá), phía nam là hòn Bút, hòn Nghiên (xã Quỳnh Ngọc), phía tây bắc là hòn Tàn, hòn Lọng (xã Quỳnh Xuân) và sau lưng là núi Hiền Hoa (thuộc xã Quỳnh Hậu). Tất cả đều chầu về hướng đình làng Quỳnh. Những người xây dựng nên công trình này tin tưởng rằng: với địa thế “phong thủy đẹp nhất trong huyện” con người nơi đây sẽ đời đời khởi sắc (2).
Trong thời kì phong kiến, đình làng là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân Thổ Đôi Trang – Quỳnh Đôi. Đây là nơi đưa chân biết bao sỹ tử làng Quỳnh lều chõng đi thi, sau đó lại đón nhiều ông nghè, ông cống “vinh quy bái tổ” về làng, làm rạng rỡ cho một cái nôi khoa bảng.
Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, đình làng Quỳnh trở thành nơi thực dân bắt bớ, giam cầm và tra tấn những người dân cũng như những chí sỹ yêu nước. Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Chi bộ Đảng cộng sản của xã Quỳnh Đôi được thành lập, trụ sở đặt tại đình làng, phát động phong trào 1930 – 1931 sôi động khắp toàn xã và lan rộng khắp huyện. Trong phong trào trung tâm của các cuộc mít tinh, biểu tình và tuần hành lớn của nhân dân. Khí thế cách mạng cuồn cuộn như triều dâng. Hòa chung vào không khí tổng khởi nghĩa của cả nước, ngày 17 – 8 – 1945, nhân dân Quỳnh Đôi đã tập trung tại ngôi đình này tiến hành cuộc tuần hành giành chính quyền về tay cách mạng.
Hiện nay, đình làng Quỳnh đã mất dần dáng dấp của một ngôi đình cổ, bởi không gian văn hóa của di tích đang dần bị lấn át. Phía bên phải đình làng là trụ sở công an và nhà thư viện xã Quỳnh Đôi (xây dựng trước khi được công nhận là di tích cấp quốc gia) án ngữ hướng nam. Cách khoảng 5m về bên trái là ngôi nhà văn hóa của xã vừa mới xây dựng, bịt kín hướng bắc đình. Chệch sang hướng tây bắc lại mọc lên sừng sững một cột thụ phát tín hiệu của Mobifone. Ở phía trước, đình làng còn bị che khuất bởi một lễ đài và một sân bóng chuyền của xã. Sự hỗn hợp giữa một bên là không gian cổ kính và một bên là không gian hiện đại đã khiến cho ngôi đình cổ hàng trăm năm tuoir mất dần đi sự tôn nghiêm. Các công trình trên đã vi phạm đến vành đai bảo vệ của di tích quốc gia (vi phạm khoản 3, điều 13, của Luật Di sản).
Hiện vật, tư liệu và tranh ảnh ở phòng truyền thống của xã Quỳnh Đôi khá phong phú, tuy vậy việc trưng bày còn thiếu khoa học. Một số hiện vật như: khung cửi của các cô gái làng Quỳnh xưa dùng để dệt lụa, chiếc bàn học của các tiến sỹ Văn Đức Giai, sắc phong của các vị khoa bảng, những lưỡi cày của nông dân Quỳnh Đôi từ thời cải cách ruộng đất, hay các khẩu súng của dân quân Quỳnh Đôi… nếu không có biện pháp bảo vệ thì chắc chắn không lâu nữa chúng sẽ bị hư hại. Các loại tư liệu ảnh cũng chịu chung số phận: ngay giữa mặt tiền của phòng truyền thống, tấm bảng của tổ chức UNESCO công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc” do trường Đảng Nguyễn Ái Quốc tặng và tấm bằng của Hội đồng Hoàng gia Anh công nhận Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những vị tướng soái kiệt xuất của thế giới do đích thân Đại tướng gửi tặng xã Quỳnh Đôi, được đặt một cách trang trọng. Tuy nhiên, qua thời gian, do công tác bảo quản không đúng cách, 2 tấm bằng đó đã bị nhòe hết, không nhìn ra chữ viết và ảnh ở trong đó nữa.
Đình làng Quỳnh không chỉ là một di tích lịch sử - văn hóa đơn thuần mà nó còn mang theo hồn của một vùng đất có lịch sử gần 700 năm xây dựng và đấu tranh, là một bảo tàng với nhiều hiện vật có giá trị không chỉ với Quỳnh Đôi mà còn liên quan đến nhiều địa phương khác. Năm 1999, Bảo tàng Xô Viết Nghệ - Tĩnh đã về nghiên cứu, tu sửa và công nhận phòng truyền thống xã Quỳnh Đôi là một bộ phận của bảo tàng này, nhưng đề án cũng chỉ mới triển khai đến đó. Việc gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị của di tích này là một vấn đề bức thiết.
Chú thích
1. Hồ Phi Hội, khởi biên, Hồ Trọng Chuyên tục biên, Hồ Đức Lĩnh dịch, biên khảo, bổ sung và tục biên, Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên, Nxb TH TPHCM, Tp.HCM 2005, tr 61.
2. Sđd, tr 35.








