Định hướng xây dựng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam
Sự cần thiết phải xây dựng chính sách thuế môi trường
Kinh tế phát triển làm thay đổi thế giới về nhiều mặt, bên cạnh những yếu tố tích cực thì mặt trái của nó làm thay đổi thành phần môi trường, tăng nhiệt độ khí quyển, thay đổi khí hậu trái đất… Hậu quả là môi trường bị ô nhiễm, các sự cố môi trường phát sinh, ảnh hưởng xấu đến đời sống và sự phát triển của con người. Vì vậy, áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường là nhiệm vụ cần thiết trước mắt và lâu dài của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam .
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc xây dựng chính sách thuế về môi trường xuất phát từ những lý do sau:
Một là, phát triển kinh tế với tốc độ cao trong những năm qua đã mang lại cho Việt Nam những thành công đáng kể, nhưng mức độ ô nhiễm môi trường cũng ngày càng gia tăng, cần phải có giải pháp kịp thời, đồng bộ để vừa có thể đẩy mạnh phát triển kinh tế nhưng vẫn bảo vệ được môi trường.
Hai là, các quy định về thuế môi trường ở Việt Nam hiện chưa bao quát hết mọi đối tượng cần thiết để bảo vệ môi trường, hoặc đã có quy định nhưng chưa đầy đủ, gây khó khăn cho hoạt động bảo vệ môi trường và công tác quản lý nhà nước. Cụ thể là:
Luật Bảo vệ môi trường quy định các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khoẻ của con người phải có nghĩa vụ nộp thuế môi trường (Điều 112), nhưng trên thực tế điều luật này chưa được thực hiện. Đã có một số sắc thuế, phí liên quan đến việc bảo vệ môi trường nhưng chưa đầy đủ. Đó là thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên và phí, đặc biệt là đất cho khai thác mỏ; thuế và phí cho các sản phẩm dầu khí. Thêm vào đó, một số phí liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường đã được ban hành trong thời gian gần đây như: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí vệ sinh áp dụng đối với thu gom và xử lý chất thải rắn từ sinh hoạt dân cư, phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, lệ phí cấp phép sử dụng nguồn nước… Tuy nhiên, mức thu các phí và lệ phí trên còn thấp, hơn nữa đối với chất thải rắn từ sản xuất công nghiệp chưa được thu.
Ba là,cần quy định thuế môi trường để có nguồn thu bổ sung nhằm trang trải các chi phí về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường.
Bốn là,thuế môi trường là biện pháp ràng buộc công dân về nghĩa vụ đối với nhà nước và bảo vệ môi trường.
Năm là,công dân là người hưởng thụ các lợi ích do môi trường lành mạnh đem lại, nên công dân có trách nhiệm trả chi phí cho việc thụ hưởng đó. Các chi phí này không thể tính toán cho mỗi công dân theo mức độ hưởng thụ giống như hàng hoá, dịch vụ mà cần có cách phân bổ khác, đó là thuế môi trường.
Định hướng xây dựng chính sách thuế môi trường
Nguyên tắc thiết lập thuế môi trường
Để bảo vệ môi trường, các quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh riêng sẽ ban hành và áp dụng thuế môi trường khác nhau, nhưng có một điểm chung là đều dựa trên nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nhà nước ban hành thuế môi trường theo chủ quyền đánh thuế của nhà nước bảo đảm nguồn thu để trang trải các chi phí bảo vệ môi trường như: Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh…
Thứ hai,nguyên tắc chủ thể gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường do hành vi của mình. Nội dung nguyên tắc này có thể được hiểu là những người gây ra tác động xấu đến môi trường sẽ phải chịu các chi phí cho việc khắc phục các tác hại đó, ở một mức độ nhất định có thể chấp nhận được, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế. Về cơ bản, nguyên tắc này đặt gánh nặng kinh tế của việc làm giảm ô nhiễm môi trường cho chủ thể gây ô nhiễm ở mức độ cao nhất có thể.
Thứ ba, nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả một khoản chi phí nhất định để bảo đảm môi trường đạt được tiêu chuẩn nhất định. Theo nguyên tắc này, tất cả những người được hưởng lợi do môi trường được cải thiện, trong lành, không bị ô nhiễm thì đều phải trả chi phí cho việc hưởng lợi đó.
Thứ tư, khi áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, các quốc gia cần cân nhắc, lựa chọn để áp dụng biện pháp hiệu quả nhất phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình, nhằm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
Về nguyên tắc, đối với những sản phẩm gây ra ô nhiễm môi trường không thể đo lường trực tiếp những chi phí thiệt hại của xã hội do việc sản xuất và sử dụng những loại sản phẩm này gây ra thì nên ban hành thuế môi trường. Đối với những sản phẩm có thể đo lường trực tiếp các chi phí quản lý, kiểm soát ô nhiễm, tái tạo môi trường thì nên ban hành phí môi trường. Các nước thường sử dụng cả thuế và phí môi trường để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và để đơn giản người ta thường gọi là thuế môi trường.
Nội dung của các nguyên tắc nêu trên đồng thời cũng hàm chứa nội dung của nguyên tắc đánh thuế dựa trên khả năng của người nộp thuế và nguyên tắc chi trả cho việc hưởng thụ các dịch vụ công.
Xây dựng chính sách thuế môi trường
Đầu tiên cần cân nhắc trong định hướng xây dựng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam là có nên xây dựng thành Luật Thuế môi trường hay lồng ghép trong từng sắc thuế cụ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, ở Việt Nam không cần thiết phải xây dựng Luật Thuế môi trường mà nên thiết kế thuế môi trường thông qua các sắc thuế, phí và lệ phí hiện có; đồng thời có thể ban hành những sắc thuế cụ thể riêng biệt để góp phần bảo vệ môi trường. Cơ sở của đề xuất này là thuế và phí môi trường có thể đánh trực tiếp vào chất thải gây ô nhiễm có thể đo lường. Trong trường hợp này, có thể thiết kế một sắc thuế môi trường chung cho nhiều đối tượng gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, nếu không thể đo lường được chất thải gây ô nhiễm thì cần đánh thuế gián tiếp vào hàng hoá, dịch vụ gây hại cho môi trường trong quá trình sản xuất và tiêu thụ. Từ quan điểm này, chúng tôi cho rằng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam nên xây dựng theo các hướng cụ thể sau:
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số sắc thuế hiện có để hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường:
Về thuế tiêu thụ đặc biệt:Giữ nguyên thuế suất đối với thuốc lá điếu như hiện nay vì mức thuế khá cao và phù hợp với mục tiêu hạn chế hút thuốc lá.
Thuế suất tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô nên chuyển phân biệt theo chỗ ngồi sang phân biệt theo dung tích xi lanh động cơ vì dung tích xi lanh có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lượng xăng dầu tiêu thụ và lượng khí thải ra môi trường.
Miễn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô điện, ô tô sử dụng nguồn năng lượng sạch.
Nghiên cứu tăng thuế suất đối với xăng, dầu vì mức thuế hiện nay (10%) là khá thấp, chưa đảm bảo hạn chế sử dụng xăng dầu.
Bổ sung túi ni lông vào diện thuế tiêu thụ đặc biệt để hạn chế sử dụng loại bao bì khó phân huỷ trong điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng xấu đến môi trường. Đồng thời để khuyến khích việc thu gom, tái chế túi ni lông nên áp dụng hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với cơ sở sản xuất sử dụng túi ni lông cũ để tái chế.
Về thuế tài nguyên:Nên cân nhắc tăng thuế suất đối với lâm sản giá trị cao, đồng thời giảm thuế suất đối với lâm sản giá trị thấp, chẳng hạn gỗ tròn từ nhóm V trở xuống, gỗ trụ mỏ, gỗ cột buồm có thể giảm xuống 10% để từ đó giảm động cơ khai thác lâm sản giá trị cao, quý hiếm.
Về thuế thu nhập doanh nghiệp:Nên giữ nguyên tắc mức thuế cao đối với hoạt động khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm. Đồng thời, cân nhắc mở rộng diện khấu hao nhanh đối với hoạt động đổi mới công nghệ theo hướng sử dụng công nghệ sạch và đối với đầu tư mới, nâng cấp, cải tiến máy móc thiết bị để giảm chất độc hại vào môi trường.
Về phí và lệ phí:Nên tăng mức thu đối với nước thải công nghiệp vì mức thu hiện tại mới chỉ bù đắp được một phần chi phí khắc phục ô nhiễm môi trường do nước thải gây ra. Bổ sung thêm chất gây ô nhiễm phải chịu phí (hiện tại mới có 6 chất gây ô nhiễm phải chịu chi phí là: COD, TSS, Hg, Pb, As và Cd).
Thứ hai, bổ sung một số phí mới để bảo vệ môi trường:
Phí sử dụng ô tô, xe máy:Phí này nên thu hàng năm và mức thu phí cần phân biệt theo thời gian sử dụng. Ô tô, xe máy có thời gian sử dụng càng dài thì mức thu phải càng cao và mức phí cần rất cao đối với xe quá cũ, sao cho chi phí sử dụng xe cũ rất lớn so với sử dụng xe mới.
Phí chất thải rắn từ sản xuất công nghiêp:Mức phí nên phân biệt theo hai loại là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại và phải đảm bảo bù đắp chi phí xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường.
Riêng thuế đánh vào việc thải khí các bon gây hiệu ứng nhà kính cần cân nhắc thêm vì đây là vấn đề toàn cầu, một quốc gia riêng lẻ không thể giải quyết được. Ngoài ra, có thể nghiên cứu bổ sung thêm một số phí như phí sử dụng nguồn nước, phí thăm dò dầu khí.








