Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 07/10/2010 19:33 (GMT+7)

Định hướng xây dựng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam

Sự cần thiết phải xây dựng chính sách thuế môi trường

Kinh tế phát triển làm thay đổi thế giới về nhiều mặt, bên cạnh những yếu tố tích cực thì mặt trái của nó làm thay đổi thành phần môi trường, tăng nhiệt độ khí quyển, thay đổi khí hậu trái đất… Hậu quả là môi trường bị ô nhiễm, các sự cố môi trường phát sinh, ảnh hưởng xấu đến đời sống và sự phát triển của con người. Vì vậy, áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường là nhiệm vụ cần thiết trước mắt và lâu dài của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam .

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc xây dựng chính sách thuế về môi trường xuất phát từ những lý do sau:

Một là, phát triển kinh tế với tốc độ cao trong những năm qua đã mang lại cho Việt Nam những thành công đáng kể, nhưng mức độ ô nhiễm môi trường cũng ngày càng gia tăng, cần phải có giải pháp kịp thời, đồng bộ để vừa có thể đẩy mạnh phát triển kinh tế nhưng vẫn bảo vệ được môi trường.

Hai là, các quy định về thuế môi trường ở Việt Nam hiện chưa bao quát hết mọi đối tượng cần thiết để bảo vệ môi trường, hoặc đã có quy định nhưng chưa đầy đủ, gây khó khăn cho hoạt động bảo vệ môi trường và công tác quản lý nhà nước. Cụ thể là:

Luật Bảo vệ môi trường quy định các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khoẻ của con người phải có nghĩa vụ nộp thuế môi trường (Điều 112), nhưng trên thực tế điều luật này chưa được thực hiện. Đã có một số sắc thuế, phí liên quan đến việc bảo vệ môi trường nhưng chưa đầy đủ. Đó là thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên và phí, đặc biệt là đất cho khai thác mỏ; thuế và phí cho các sản phẩm dầu khí. Thêm vào đó, một số phí liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường đã được ban hành trong thời gian gần đây như: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí vệ sinh áp dụng đối với thu gom và xử lý chất thải rắn từ sinh hoạt dân cư, phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, lệ phí cấp phép sử dụng nguồn nước… Tuy nhiên, mức thu các phí và lệ phí trên còn thấp, hơn nữa đối với chất thải rắn từ sản xuất công nghiệp chưa được thu.

Ba là,cần quy định thuế môi trường để có nguồn thu bổ sung nhằm trang trải các chi phí về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường.

Bốn là,thuế môi trường là biện pháp ràng buộc công dân về nghĩa vụ đối với nhà nước và bảo vệ môi trường.

Năm là,công dân là người hưởng thụ các lợi ích do môi trường lành mạnh đem lại, nên công dân có trách nhiệm trả chi phí cho việc thụ hưởng đó. Các chi phí này không thể tính toán cho mỗi công dân theo mức độ hưởng thụ giống như hàng hoá, dịch vụ mà cần có cách phân bổ khác, đó là thuế môi trường.

Định hướng xây dựng chính sách thuế môi trường

Nguyên tắc thiết lập thuế môi trường

Để bảo vệ môi trường, các quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh riêng sẽ ban hành và áp dụng thuế môi trường khác nhau, nhưng có một điểm chung là đều dựa trên nguyên tắc sau:

Thứ nhất, nhà nước ban hành thuế môi trường theo chủ quyền đánh thuế của nhà nước bảo đảm nguồn thu để trang trải các chi phí bảo vệ môi trường như: Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh…

Thứ hai,nguyên tắc chủ thể gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường do hành vi của mình. Nội dung nguyên tắc này có thể được hiểu là những người gây ra tác động xấu đến môi trường sẽ phải chịu các chi phí cho việc khắc phục các tác hại đó, ở một mức độ nhất định có thể chấp nhận được, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế. Về cơ bản, nguyên tắc này đặt gánh nặng kinh tế của việc làm giảm ô nhiễm môi trường cho chủ thể gây ô nhiễm ở mức độ cao nhất có thể.

Thứ ba, nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả một khoản chi phí nhất định để bảo đảm môi trường đạt được tiêu chuẩn nhất định. Theo nguyên tắc này, tất cả những người được hưởng lợi do môi trường được cải thiện, trong lành, không bị ô nhiễm thì đều phải trả chi phí cho việc hưởng lợi đó.

Thứ tư, khi áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, các quốc gia cần cân nhắc, lựa chọn để áp dụng biện pháp hiệu quả nhất phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình, nhằm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Về nguyên tắc, đối với những sản phẩm gây ra ô nhiễm môi trường không thể đo lường trực tiếp những chi phí thiệt hại của xã hội do việc sản xuất và sử dụng những loại sản phẩm này gây ra thì nên ban hành thuế môi trường. Đối với những sản phẩm có thể đo lường trực tiếp các chi phí quản lý, kiểm soát ô nhiễm, tái tạo môi trường thì nên ban hành phí môi trường. Các nước thường sử dụng cả thuế và phí môi trường để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và để đơn giản người ta thường gọi là thuế môi trường.

Nội dung của các nguyên tắc nêu trên đồng thời cũng hàm chứa nội dung của nguyên tắc đánh thuế dựa trên khả năng của người nộp thuế và nguyên tắc chi trả cho việc hưởng thụ các dịch vụ công.

Xây dựng chính sách thuế môi trường

Đầu tiên cần cân nhắc trong định hướng xây dựng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam là có nên xây dựng thành Luật Thuế môi trường hay lồng ghép trong từng sắc thuế cụ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, ở Việt Nam không cần thiết phải xây dựng Luật Thuế môi trường mà nên thiết kế thuế môi trường thông qua các sắc thuế, phí và lệ phí hiện có; đồng thời có thể ban hành những sắc thuế cụ thể riêng biệt để góp phần bảo vệ môi trường. Cơ sở của đề xuất này là thuế và phí môi trường có thể đánh trực tiếp vào chất thải gây ô nhiễm có thể đo lường. Trong trường hợp này, có thể thiết kế một sắc thuế môi trường chung cho nhiều đối tượng gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, nếu không thể đo lường được chất thải gây ô nhiễm thì cần đánh thuế gián tiếp vào hàng hoá, dịch vụ gây hại cho môi trường trong quá trình sản xuất và tiêu thụ. Từ quan điểm này, chúng tôi cho rằng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam nên xây dựng theo các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số sắc thuế hiện có để hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường:

Về thuế tiêu thụ đặc biệt:Giữ nguyên thuế suất đối với thuốc lá điếu như hiện nay vì mức thuế khá cao và phù hợp với mục tiêu hạn chế hút thuốc lá.

Thuế suất tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô nên chuyển phân biệt theo chỗ ngồi sang phân biệt theo dung tích xi lanh động cơ vì dung tích xi lanh có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lượng xăng dầu tiêu thụ và lượng khí thải ra môi trường.

Miễn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô điện, ô tô sử dụng nguồn năng lượng sạch.

Nghiên cứu tăng thuế suất đối với xăng, dầu vì mức thuế hiện nay (10%) là khá thấp, chưa đảm bảo hạn chế sử dụng xăng dầu.

Bổ sung túi ni lông vào diện thuế tiêu thụ đặc biệt để hạn chế sử dụng loại bao bì khó phân huỷ trong điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng xấu đến môi trường. Đồng thời để khuyến khích việc thu gom, tái chế túi ni lông nên áp dụng hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với cơ sở sản xuất sử dụng túi ni lông cũ để tái chế.

Về thuế tài nguyên:Nên cân nhắc tăng thuế suất đối với lâm sản giá trị cao, đồng thời giảm thuế suất đối với lâm sản giá trị thấp, chẳng hạn gỗ tròn từ nhóm V trở xuống, gỗ trụ mỏ, gỗ cột buồm có thể giảm xuống 10% để từ đó giảm động cơ khai thác lâm sản giá trị cao, quý hiếm.

Về thuế thu nhập doanh nghiệp:Nên giữ nguyên tắc mức thuế cao đối với hoạt động khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm. Đồng thời, cân nhắc mở rộng diện khấu hao nhanh đối với hoạt động đổi mới công nghệ theo hướng sử dụng công nghệ sạch và đối với đầu tư mới, nâng cấp, cải tiến máy móc thiết bị để giảm chất độc hại vào môi trường.

Về phí và lệ phí:Nên tăng mức thu đối với nước thải công nghiệp vì mức thu hiện tại mới chỉ bù đắp được một phần chi phí khắc phục ô nhiễm môi trường do nước thải gây ra. Bổ sung thêm chất gây ô nhiễm phải chịu phí (hiện tại mới có 6 chất gây ô nhiễm phải chịu chi phí là: COD, TSS, Hg, Pb, As và Cd).

Thứ hai, bổ sung một số phí mới để bảo vệ môi trường:

Phí sử dụng ô tô, xe máy:Phí này nên thu hàng năm và mức thu phí cần phân biệt theo thời gian sử dụng. Ô tô, xe máy có thời gian sử dụng càng dài thì mức thu phải càng cao và mức phí cần rất cao đối với xe quá cũ, sao cho chi phí sử dụng xe cũ rất lớn so với sử dụng xe mới.

Phí chất thải rắn từ sản xuất công nghiêp:Mức phí nên phân biệt theo hai loại là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại và phải đảm bảo bù đắp chi phí xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường.

Riêng thuế đánh vào việc thải khí các bon gây hiệu ứng nhà kính cần cân nhắc thêm vì đây là vấn đề toàn cầu, một quốc gia riêng lẻ không thể giải quyết được. Ngoài ra, có thể nghiên cứu bổ sung thêm một số phí như phí sử dụng nguồn nước, phí thăm dò dầu khí.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.