Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 08/12/2009 17:40 (GMT+7)

Định hướng phát triển năng lượng Việt Nam từ 2006 đến 2015

Để phát triển kinh tế xã hội của đất nước với mức tăng trưởng GDP khoảng 8,5 – 9% trong một năm và cao hơn trong thời gian 2006 - 2015, yêu cầu tiêu thụ điện được dự báo tăng 17%/ năm (dự báo cơ bản) và 20% (dự báo mức cao) trong giai đoạn 2006 – 2015; dự báo mức cao được xác định là dự báo thực thi và dự báo 22%/ năm cho trường hợp tăng trưởng mạnh.

Bảng 2. Tình hình sản xuất điện năm 2007
Bảng 2. Tình hình sản xuất điện năm 2007

Sự phát triển nguồn năng lượng điện phải đáp ứng yêu cầu của phụ tải. Nó phải được đảm bảo hiệu quả chung khi xây dựng nhà máy thuỷ điện như kết hợp chống lụt, cung cấp nước và sản xuất điện; nhà máy nhiệt điện đốt khí phải được phát triển hợp lý và có hiệu quả; nhà máy nhiệt điện đốt than phải được tăng cường; nhà máy thuỷ điện nhỏ, năng lượng mới và năng lượng tái tạo phải được phát triển ở những vùng đồi núi, năng lượng điện phải được trao đổi với các nước trong khu vực. Cung cấp điện quốc gia phải được phát triển bền vững. Giai đoạn chuẩn bị thiết kế nhà máy điện hạt nhân phải được hoàn thành.

Những trung tâm điều phối điện ở các vùng trong cả nước phải được phát triển phù hợp để đảm bảo độ tin cậy của cung cấp điện địa phương và giảm tổn thất công suất kỹ thuật cho toàn hệ thống và đảm bảo tính kinh tế của sản xuất và đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội cho mỗi vùng và cho toàn đất nước.

Sự phát triển của những nguồn điện mới phải được tính đến theo chiều sâu và đổi mới công nghệ ở nhà máy điện để đảm bảo tiêu chuẩn môi trường; sử dụng công nghệ hiện đại cho những nhà máy điện mới…

1. Cơ cấu hệ thống điện và tình hình sản xuất năng lượng điện

Tình hình sản xuất điện của hệ thống điện Việt Nam được giới thiệu trong các bảng 1, 2, 3, 4.

Bảng 3. Số giờ vận hành của NMNĐ (2002 - 2007)
Bảng 3. Số giờ vận hành của NMNĐ (2002 - 2007)
Dựa trên định hướng của Tổng sơ đồ VI, kế hoạch phát triển điện như sau.

Sản xuất năng lượng điện:để thoả mãn nhu cầu về công suất của nền kinh tế quốc dân, sản xuất năng lượng điện Việt Nam sẽ là 190.047 tỷ kWh vào năm 2015 và 431.664 tỷ kWh vào năm 2025.

Dự báo này là phương án cơ sở. Phương án cao sản xuất điện sẽ là 215.817 tỷ kWh vào năm 2015 và 489.621 tỷ kWh vào năm 2025.

Kế hoạch phát triển nguồn điện:

Đối với phương án cơ sở, tổng công suất điện sẽ được xây dựng thêm trong năm 2006 – 2015 kể cả điện nhập khẩu sẽ là 75.679 MW trong đó 34.590 MW cho nhà máy nhiệt điện đốt than; 12.376 MW cho nhà máy nhiệt điện đốt khí; 4.000 MW cho nhà máy nhiệt điện hạt nhân; 12.648 MW cho thuỷ điện, 4.800 MW cho nhà máy thủy điện tích năng, 2.134 MW cho nhà máy thuỷ điện nhỏ và nhà máy năng lượng tái tạo và 5.131 MW do nhập khẩu.

Phát triển hệ thống điện:

Bảng 4. Suất tiêu thụ nhiên liệu và tỷ lệ điện tự dùng
Bảng 4. Suất tiêu thụ nhiên liệu và tỷ lệ điện tự dùng

Phương án cơ bản cho những năm 2006 - 2025 sẽ được xây dựng như sau:

- 8.921 km đường dây 500 kV, 13.761 km đường dây 220 kV và 18,.159 km đường dây 110 kV.

- Trạm biến thế 500 kV có công suất 48.750 MVA, trạm biến thế 220 kV có công suất 110.059 MVA và trạm biến thế 110 kV có công suất 125.560 MVA.

- 256.560 km đường dây trung áp và hạ áp và 124.000 MVA trạm phân phối điện.

Đầu tư vốn cho điện tử năm 2006 - 2025 là: 80 tỷ USD trong đó 52 tỷ USD cho nguồn công suất và 28 tỷ USD cho hệ thống tải điện. Trung bình mỗi năm 4 tỷ USD.

2. Phần công nghiệp than

Bảng 5
Bảng 5
Tổng nguồn than trên phạm vi toàn quốc đã được khai thác - thẩm tra - đánh giá tại thời điểm tháng 1 - 2006, xin tham khảo trong bảng 5.

Tổng sản lượng khai thác (mức A + B + C1 + C2) của các loại than trên toàn quốc được huy động cho kế hoạch phát triển công nghiệp than Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2025 là 3.695.447 ngàn tấn (tham khảo bảng 6).

Tổng các loại than ở Việt Nam vào khoảng 3.625.966 ngàn tấn. Sản lượng than sẽ được khai thác là 46 triệu tấn năm 2010, 46 - 50 triệu tấn vào năm 2015, 57 - 63 triệu tấn vào năm 2020 và 59 - 66 triệu tấn vào năm 2025.

Định hướng khai thác hợp lý và giảm chi phí khai thác than

Đối với khai thác than lộ thiên: cùng với tăng năng lực một số mỏ than, công nghiệp than sẽ mở rộng phạm vi của mỏ than đến cực đại.

Bảng 6
Bảng 6

Đối với khai thác than hầm lò: Cùng với sự mở rộng và tăng cường sản lượng khai thác công nghiệp than sẽ đẩy mạnh khảo sát những mỏ mới với trữ lượng cao, đồng bộ và công nghệ hiện đại và cơ chế khai thác than hiệu quả.

Khai thác và phát triển những mỏ than nhỏ địa phương: lập lại trật tự trong khai thác than và lựa chọn hệ thống để tăng trữ lượng và xây dựng những yếu tố mới với tiến trình hiện đại.

Định hướng kế hoạch cung cấp than của mỏ than Việt Nam như sau

Bảng 7. Tiến trình khai thác than theo phương án đã được chỉnh lý đến năm 2025 (TVN)
Bảng 7. Tiến trình khai thác than theo phương án đã được chỉnh lý đến năm 2025 (TVN)
Than của mỏ than Mạo Khê sẽ cung cấp chính cho nhà máy nhiệt điện Phả Lại và nhà máy nhiệt điện Mạo KHê.

Than của mỏ than Vàng Danh, Uông Bí, Yên Tử, Bảo đài và Đồng Vông sẽ cung cấp than cho nhà máy nhiệt điện Uông Bí (có thể cho Hải Phòng), Phân lân Văn Điển, Khu công nghiệp Hoành Bồ và cho xuất khẩu.

Than của mỏ than Hòn Gai sẽ cung cấp than cho nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Ninh Bình, Hải Phòng, Thái Bình, Vũng Áng và cho xuất khẩu.

Than của mỏ than Cẩm Phả sẽ cung cấp chính cho nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Cẩm Phả, Mông Dương, Hải Phòng, những nhà máy nhiệt điện khác và xuất khẩu.

Bảng 8. Sản lượng dầu thô
Bảng 8. Sản lượng dầu thô

Vùng nội địa sẽ cung cấp than chính cho nhà máy nhiệt điện Na Dương, Cao Ngạn và những nhà máy nhiệt điện trong vùng. Vùng tam giác sông Hồng sẽ cung cấp than cho những nhà máy nhiệt điện tương lai sẽ xây dựng sau năm 2010 theo lộ trình.

Ngoài ra phải giải quyết vấn đề nhập khẩu than cho những nhà máy nhiệt điện mới ở miền Trung và ở miền Nam.

3. Công nghiệp dầu mỏ

a. Cung cấp dầu, cung cấp khí và nhu cầu dầu thô

Sản lượng dầu thô khai thác duy trì ở mức tăng trưởng cao, dầu thô xuất khẩu được chỉ ra trong bảng 8, tiêu thụ dầu trong bảng 9, tỷ lệ sản xuất, tiêu thụ trong bảng 10.

Sản xuất và tiêu thụ khí:

Hiện nay khí đang được khai thác khoảng 7 tỷ m3.

Cho phát điện: khoảng 86%.

Cho công nghiệp phân bón: 10%

Cho các cong nghiệp khác: 4%.

Bảng 9. Tiêu thụ dầu.
Bảng 9. Tiêu thụ dầu.
Đến nay sản lượng tổng dầu khí được khai thác đã đạt 238 triệu tấn tính đến ngày 31 - 12 - 2006 trong đó 206,1 tấn là dầu và 32,4 tỷ m3 gas.

Định hướng cho chương trình phát triển dầu khí sẽ là:

Sản lượng dầu và khí sẽ khai thác:

2006 - 2010: 25 - 30 triệu TOE/ năm trong đó dầu thô nội địa 18 - 19 triệu tấn, khí 8 - 10 tỷ m3 và dầu thô được khai thác ở nước ngoài là 0,2 - 1 tỷ tấn.

2011 - 2015: 31 - 35 triệu TOE/ năm trong đó dầu thô khai thác trong nội địa là 16 - 18 triệu tấn, khí là 11 - 15 tỷ m3, và dầu thô khai thác ở nước ngoài là 1,2 - 3 triệu tấn.

2016 - 2025: 34 - 35 triệu TOE/ năm trong đó dầu thô được khai thác trong nội địa là 13 - 15 triệu tấn, khí là 15 - 16 tỷ m3 và dầu thô khai thác ở nước ngoài là 3,5 - 5,5 triệu tấn.

Thăm dò dầu khí tiếp tục được khảo sát và phát triển ở những vùng dầu và khí mới sẽ được khai thác.

Bảng 10. Sản xuất và tiêu thụ
Bảng 10. Sản xuất và tiêu thụ

Đề án đường ống dẫn khí sẽ phát triển để cung cấp khí cho nhà máy nhiệt điện và cho hộ gia đình. Kế hoạch chủ đạo về hệ thống sử dụng khí sẽ phát triển ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam.

Công nghệ sản xuất dầu khí sẽ được phát triển để đảm bảo an ninh nhiên liệu.

Sự phát triển của những trung tâm lọc dầu sẽ được thực hiện theo kế hoạch.

Petro Việt Nam đã xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt khí với kế hoạch công suất:

Cà Mau 1: 759 MW

Cà Mau 2; 750 MW (3 - 2008)

Nhơn Trạch 1: 450 MW (3 - 2008)

Nhơn Trạch 2: 750 MW (2009)

4. Kết luận

Về cơ bản công nghiệp năng lượng Việt Nam đã đáp ứng đòi hỏi của sản xuất và hoạt động xã hội. An ninh năng lượng cũng như điều kiện tự nhiên và thị trường năng lượng thế giới đến nay còn chưa hoàn chỉnh. An ninh năng lượng đạt được sự đảm bảo ban đầu, nhưng chúng ta phải chú ý tiếp theo.

Nguồn năng lượng phải được sử dụng và khai thác hợp lý và hiệu quả hơn.

Năng lượng phải được đảm bảo để cung cấp đủ với chất lượng cao, giá thành hợp lý cho sự phát triển kinh tế xã hội; thị trường năng lượng phải được hình thành chắc chắn ở Việt Nam.

Công nghiệp năng lượng cần thiết phải phát triển nhanh, hiệu quả bền vững và bảo vệ môi trường.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Nghệ An: Khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng
Sáng 7/8, Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn và trường Cao đẳng công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tổ chức khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh năm 2026.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long
Ngày 7/8, tại Vĩnh Long, GS.TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên sau hợp nhất Liên hiệp Hội ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đội ngũ trí thức KH&CN trên địa bàn tỉnh.
Thống nhất quy định để doanh nghiệp không phải khai báo nhiều lần
Sáng 7/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận về: dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.
Nghệ An: Trao 162 giải thưởng Olympic Hóa học 19-5
Cuộc thi đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về sự hấp dẫn của Hóa học và lan tỏa tình yêu của Hóa học đương đại đến mọi người. Thành công của cuộc thi là lời khẳng định về vai trò của Hóa học trong đời sống và tương lai của đất nước.
Xây dựng hành lang pháp lý phát triển đô thị Việt Nam
Chuyển mạnh từ tư duy quản lý đô thị sang kiến tạo phát triển đô thị là một trong những nội dung được nhiều chuyên gia góp ý tại Hội thảo “Đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật Phát triển đô thị” do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp cùng Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam và Tổng Hội Xây dựng Việt Nam tổ chức sáng 5/8, tại Hà Nội.
Gia Lai: Liên hiệp các Hội tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông
Ngày 4/8, Liên hiệp các Hội KH&KT Gia Lai (Liên hiệp Hội) đã tổ chức lớp tập huấn “Kỹ năng xây dựng tin, bài trong bối cảnh truyền thông hiện nay” với sự tham dự của ông Lê Anh Tuân – Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội, Nhà báo Lương Văn Danh – Phó Giám đốc Báo và Phát thanh – Truyền hình Gia Lai, báo cáo viên của lớp tập huấn; cùng khoảng 50 học viên đến từ các đơn vị thành viên Liên hiệp Hội.