Dinh dưỡng trong bệnh lao phổi
Cơ chế lây bệnh
Khi một người bình thường tiếp xúc với vi trùng lao, do bệnh nhân ho hay hắt hơi, làm văng ra không khí xung quanh, hệ miễn dịch đáp ứng bằng chách vô hiệu hóa vi trùng với các đại thực bào (macrophages) hoạt động qua trung gian của các tế bào T.
Chỉ có lối 10% những ai tiếp xúc với vi trung lao, vào một lúc nào đó trong cuộc đời họ, mới phát ra bệnh lao thực sự-do hệ miển dịch bị suy yếu di: vi trung lao chỉ đợi có “cơ hội” này để hoành hành, “ăn theo” bệnh AIDS và bệnh đái tháo đường, chẳng hạn.
Bị lao phần nhiều là phổi bị tổn thương, mặc dù các cơ quan bộ phận khác cũng có thể bị. Vi khuẩn lao thường theo một tiến trình phát triển trải qua một giai đoạn sinh viêm sau đó thì lành lại kèm theo những dấu hiệu calci hóa các thương tổn. Hình thức cấp tính của bệnh lao phổi cũng giống như viêm phổi sốt cao (pneumonia with high fever). Dạng bệnh kinh niên chỉ khác ở chỗ không sốt cao, âm ỉ thôi.
Các yếu tố nguy cơ
Hiện nay đáng kể nhất là:
- Nhiễm HIV
- Tình trạng vô gia cư, sống lang thang
- Nghiện ma túy
- Nghiện rượu
- Nhập cư từ một nơi có tỷ lệ bệnh lao cao
- Ở những nơi chen chúc, những cơ sở xã hội chật hẹp…
Cái sốt làm hao mòn cơ thể
Người bị lao thường hay chán ăn và bị sốt “âm ỉ”nhất là buổi chiều. Chính chứng sốt dai dẳng này làm hao mòn cơ thể, phần lớn do mức chuyển hóa cơ bản lúc nghỉ ngơi gia tăng tới 30 – 40%: nhiệt dộ cơ thể cứ tăng 1°C là chuyển hóa cơ bản tăng 13% và sốt càng cao thì cứ nằm ngủ thôi cũng đã tiêu hao năng lượng rồi. Và tiêu hao năng lượng tăng trong điều kiện chán ăn thì phần lớn nguồn nặng lực là do tiêu chất đạm của các cơ bắp → bệnh nhân lao rất hay bị đau nhức cơ bắp.
Từ 1970 tới nay, người ta đã hiểu rõ hơn cơ chế dẫn tới chứng sốt “đặc trưng” của bệnh lao: nguyên nhân gây sốt không phải là vi khuẩn Koch gram âm, mà là một chất peptid nội sinh (endogenous pyrogen) - được đặt tên là Interleukin 1 (IL-1)- thậm chí người ta đã dòng hóa (cloning) được gen có chức năng tao ra chất này ở chuột cũng như ở người – do chính các bạch cầu máu ngoại vi tiết ra để đối phó với vi khuẩn.
Nhờ nắm vững cơ chế sinh bệnh lý này trong tương tác giữa bệnh nhiễm trùng và tình trạng dinh dưỡng, người ta có thể biết cách nuôi ăn hỗ trợ điều trị với hiệu quả cao nhất .
Nguyên tắc dinh dưỡng
Trong bệnh lao phổi kinh niên, mục đích của phép tiết thực là nâng cao tổng trạng để hệ miễn dịch phát huy hết tiềm năng, cụ thể tập trung vào 5 điểm:
- Cung cấp đủ năng lượng (2.500 – 3.000 Kcals).
- Cung cấp dồi dào chất đạm (75 – 110g) thuộc loại có giá trị sinh học cao: sữa, trứng, thịt, cá, gan, đậu nành…dưới dạng nào dễ ăn, dễ nuốt nhất.
- Bổ sung sắt và tăng nguồn thức ăn cung cấp vitamin C, nhất là khi có ho ra máu.
- Nên cung cấp những thức ăn giàu vitamin A - cũng cần lưu ý là hiệu quả chuyển hóa beta-caroten thành vitamin A không cao ở người bị lao, nên nguồn vitamin động vật có hiệu quả hơn nguồn thực vật.
- Phòng ngừa và điều trị tình trạng suy dinh dưỡng bằng cách lựa chọn những thức ăn có hàm lượng dưỡng chất và năng lượng tương đối cao: 1ml miếng ăn nên đem lại trung bình từ 1 đến 2 Kcals.
Ảnh hưởng của thuốc men
Một khi đã được chuẩn đoán bệnh lao bao giờ cũng được điều trị theo một phác đồ sử dụng nhiều thứ thuốc không phải chỉ cần uống đúng liều, đủ thời gian là đương nhiên sẽ khỏi bệnh: chính tác dụng phụ của thuốc có thể là trở ngại cho việc tuân thủ theo phác đồ nên cần cố gắng khắc phục mới thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn: vì lao nên cơ thể sa sút, đã thế, tác dụng phụ của thuốc khiến cho không ăn được dân đến bỏ uống thuốc nên bệnh không giảm làm cơ thể càng sa sút…
Đáng lưu ý nhất là ảnh hưởng của các thuốc:
- Isoniazid đối kháng với vitamin B6: đã dùng isoniazid thì phải uống vitamin B6 bổ sung thêm 50mg/ngày, để tránh thấy xuất hiện triệu chứng viêm dây thần kinh ngoại vi nhiều khi đã bị rồi không phục hồi lại được như cũ.
- Axit para-aminosalicylic (PAS) thường hay gây rối loạn tiêu hoá như buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy và đau bụng (nên uống lúc bụng no). Chính vì tác dụng phụ này mà nhiều bệnh nhân không tuân thủ phác đồ điều trị khiến cho bệnh lao khó chữa hoặc / và hay tái phát.
Đây quả thực là một sự thách đố cần giải quyết khéo léo: Với một chế độ ăn đòi hỏi tăng calo và tăng chất đạm cho một bệnh nhân cần tuân thủ một phác đồ điều trị gây nên một số tác dụng phụ, cần khắc phục.
Tóm lại
Ngoài việc cung cấp một khẩu phần ăn dựa vào tháp dinh dưỡng cố gắng:
- Đem lại gấp rưỡi số năng lượng và gấp đôi lượng chất đạm , so với người bình thường.
- Nên cho uống bổ sung một số axit amin có tác dụng hỗ trợ cho chức năng tạo urê của gan và xử lý ammoniac của thận và một số cơ quan khác như não, cơ bắp… arginin, glutamin , và những axit amin có nhánh leucin, isoleucin, threonin…
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 328, 15/3/2007, tr 9








