Điện hạt nhân ở Việt Nam: Triển vọng và thách thức
Theo nhiều chuyên gia, ĐHN có triển vọng phát triển ở Việt Nam . Tuy nhiên, bên cạnh đó sẽ có những thách thức cần phải lường trước để có thể đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển công nghiệp ĐHN ở Việt Nam .
Sự trở lại của điện hạt nhân
Công nghiệp ĐHN trên thế giới đã có lịch sử phát triển hơn 50 năm. Trong những năm cuối thập kỷ 7 (thế kỷ trước), ĐHN trên thế giới đã có sự phát triển nhanh. Tuy nhiên, ngành này cũng vấp phải những thử thách lớn là sự cố Three Mile Island ở Mỹ (năm 1979) và thảm hoạ Chernobyl (Liên Xô cũ-năm 1986) đã làm chậm lại tốc độ phát triển ĐHN. Song, triển vọng phát triển đã quay trở lại với công nghiệp ĐHN từ những năm đầu thế kỷ 21. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 440 lò đang hoạt động, có 31 lò đang được xây dựng (2007) và nhiều lò đang có kế hoạch xây dựng. Xu hướng quay trở lại của ĐHN ngày càng rõ ở nhiều nước trên thế giới, điều đó cũng giúp cho triển vọng phát triển ĐHN ở Việt Nam trở nên sáng sủa hơn.
ĐHN có giá thành rẻ hơn so với các nhà máy phát điện sử dụng nhiên liệu than, dầu, hoặc khí. Đặc biệt, trong điều kiện giá nhiên liệu than, dầu và khí ngày càng tăng, thì giá thành sản xuất ĐHN lại càng trở nên cạnh tranh cao hơn và sẽ là sự lựa chọn để phát triển kinh tế.
Chất thải phóng xạ và sự chấp thuận của công chúng
Chất thải phóng xạ hiện là vấn đề chưa có hướng giải quyết triệt để. Hiện tại, ở nhiều nước, các chất bó thanh nhiên liệu đã cháy được lưu giữ tại nhà máy (thời hạn có thể đến 50 năm) chờ đến khi được vận chuyển đến địa điểm cố định. Tuy nhiên, chưa nước nào có được một địa điểm ổn định lưu giữ chất phóng xạ cao này cho thời gian dài (1.000-100.000 năm), mà mới chỉ ở mức độ mô phỏng trên mô hình (Pháp), hoặc chuẩn bị xây dựng, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn (núi Yucca-Mỹ). Các nghiên cứu về xử lý và quản lý chất thải hoạt độ cao đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư nghiên cứu; hy vọng với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thì sớm có giải pháp tối ưu trong tương lai gần. Sự đồng thuận của công chúng là một yếu tố quyết định sự thành công cho sự phát triển công nghiệp ĐHN. Kinh nghiệm của các nước (Mỹ, Philippin) cho thấy, sự phản đối của công chúng có thể làm kéo dài thời gian xây dựng và tăng chi phí xây dựng, thậm chí chủ đầu tư dẫn tới phá sản, hoặc không đưa vào vận hành được.
Riêng ở Việt Nam, qua các cuộc triển lãm và thăm dò dư luận tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Phú Yên gần đây cho thấy, tỷ lệ ủng hộ của dân chúng rất cao (90% thấy sự cần thiết của ĐHN, 47,7% coi ĐHN là có ích và an toàn, chỉ có 4,6% coi ĐHN là nguy hiểm). Tuy nhiên, sự ủng hộ này đang có nguy cơ giảm sút do thiếu sự tuyên truyền, thông tin phổ biến. Việc chuẩn bị cho phát triển ĐHN ở Việt Nam đã được dự kiến từ những năm của thập kỷ 9 (thế kỷ trước). Tuy nhiên, do điều kiện chưa thuận lợi, nên mới chỉ tạm dừng ở nghiên cứu tổng quan. Công việc chuẩn bị đã được triển khai mạnh hơn kể từ sau 2002, khi Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên của Việt Nam do Viện Năng lượng (Tập đoàn Điện lực Việt Nam-EVN) chủ trì phối hợp cùng một số cơ quan liên quan khác đã hoàn thành và trình Thủ tướng vào tháng 8-2005. Cuối tháng 4-2008 Viện Năng lượng đã được ngành chức năng tiếp tục giao nhiệm vụ lập báo cáo đầu tư xây dựng nhà máy ĐHN tại Phước Dinh và Vĩnh Hải (Ninh Thuận), mỗi địa điểm dự kiến xây dựng 2 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 1.000MW. Dự kiến, tổ máy đầu tiên sẽ vận hành năm 2020. Viện Năng lượng đang lập 2 báo cáo quy hoạch địa điểm chi tiết tại Phước Dinh và Vĩnh Hải để có thể sớm trình Bộ Công thương phê duyệt địa điểm, nhằm chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để xây dựng nhà máy. Ngoài ra, để đáp ứng việc phát triển nhiều tổ máy ĐHN trong tương lai, thì việc tìm thêm các địa điểm khác là rất cần thiết, công việc qui hoạch các địa điểm tiềm năng này đang được Viện Năng lượng nghiên cứu và sẽ sớm có kế hoạch triển khai.
Nguồn: hanoimoi.com.vn (21/05/08)








