Điện hạt nhân ở Việt Nam: Phải quyết cả quỹ đạo
Điện hạt nhân (ĐHN) khác với các nguồn điện khác bởi liên quan đến vấn đề an toàn. Cũng vì sự an toàn mà nó chia rẽ thế giới trong nhiều năm qua. Trong các cuộc trưng cầu dân ý ở các nước tiên tiến, mãi cho tới gần đây, ý kiến phản đối ĐHN vẫn rất nhiều. Trên thế giới có tới 150 nước có thể làm ĐHN, họ cũng cần rất nhiều điện nhưng chưa triển khai. Ở nước Mỹ, suốt thời gian dài từ 1980 - 2000, họ nhất quyết không làm ĐHN. Khi Tổng thống G.Bush lên cầm quyền, trước tình trạng thiếu điện, áp lực hiệu ứng nhà kính… có khuyến khích ĐHN nhưng sau bao năm, đến nay, nước Mỹ cũng chỉ xây 1 nhà máy.
Hiện có 31 nước đang xây dựng ĐHN, trong đó có 8 nước như Việt Nam có thể vận hành ĐHN vào năm 2020 (cũng có thể không). Nhưng nếu không thấy hết các khía cạnh của nó mà chỉ nói rằng ĐHN an toàn lắm thì thứ nhất là sai, thực tế không đúng như vậy, và thứ hai, sẽ dẫn đến việc làm cho cả xã hội chủ quan, đặc biệt là những người có trách nhiệm.
![]() |
Phạm Duy Hiển |
Theo kế hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam đến năm 2030 của Bộ Công thương, sẽ có 7 nhà máy được xây dựng tại Ninh Thuận và một số điểm của miền Trung, tổng công suất lên tới 15 đến 16 nghìn MW. Như vậy, chỉ sau 15 năm, tại 2 huyện của Ninh Thuận có tới 7 nhà máy ĐHN. Làm ĐHN không đơn giản như vậy. Xây 7 nhà máy trong 15 năm, chúng ta có làm được không? Điều kiện hiện nay đã hội đủ để xây dựng nhà máy đầu tiên chưa?
Ở đây, nên tìm hiểu và phân tích vấn đề một cách chi tiết và thận trọng hơn. Không nên chỉ nghĩ đến việc xây cho bằng được. Một tổ máy công suất 1000 MW đã gấp 6000 lần lò Đà Lạt bây giờ (cả nước có nhiều nguồn phóng xạ, nhưng phóng xạ ở lò Đà Lạt lớn nhất). Sau 1 năm vận hành, chất phóng xạ đã gấp 6000 lần chất phóng xạ hiện có ở lò Đà Lạt. Với 7 nhà máy, chạy 1 năm, 10 năm chất phóng xạ thải ra sẽ là bao nhiêu?
Đó là còn chưa tính đến các nguy cơ khác… và trong thời gian ngắn như vậy, chúng ta sẽ lấy nhân lực ở đâu để vận hành những nhà máy này. Nhân lực ĐHN không đơn giản là cứ mở các trường, rồi cứ thế đào tạo. Hiện nay, trong biên chế nhà nước không có một người nào có thể dạy được bậc đại học ngành hạt nhân chứ chưa nói đến ĐHN. Những người dạy được, không nhiều nhưng đều đã nghỉ. Mà đào tạo nhân lực ĐHN là đào tạo chuyên gia cứ không phải chỉ là bậc đại học. Đào tạo chuyên gia chỉ có cách là qua công việc mà công việc cứ ào ào như thế thì làm sao có thể đào tạo được. Lúc đó người nước ngoài sẽ lo hết, sẽ điều hành những công việc chính, chúng ta chỉ là giúp việc.
Trong báo cáo đầu tư, Bộ Công thương tính suất đầu tư cho ĐHN là 2800 USD/kW, thực tế không như vậy. Đầu tư vào ĐHN là cực lớn. Tính ra, nếu đầu tư vào lò thế hệ III, giá phải là 5000 USD/kW. Hiện, Phần Lan cũng đang phải xây với giá 4800USD/kW. Mỹ cũng tính 5000 USD/kW, đó cũng là lý do tại sao Mỹ muốn có nhiều điện mà không đầu tư vào ĐHN.
Bài học xương máu của Philippine còn nguyên giá trị, thà vứt đi hàng chục tỉ USD tiền đóng thuế của dân chứ nhất định không vận hành nhà máy ĐHN. Họ nghèo và thiếu điện như ta mà vẫn quyết định như vậy đấy. Nhưng tại sao họ làm, rồi tại sao họ bỏ? Trong số những người có trách nhiệm ở ta, ai sẽ là người giải thích tại sao Philippine làm như vậy?
Điện hạt nhân nó là như vậy. Triển khai ĐHN, chúng ta mạo hiểm cả kinh tế và sự an toàn. Vì vậy, cần nói hết, nói tất cả những gì liên quan đến nó. Dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam khả thi hay không, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng phải trả lời cho được câu hỏi: Chúng ta đã sẵn sàng chưa?









