“Địa đạo bí hiểm dưới lòng Hà Nội”: Nhà khoa học vén màn bí mật
Trong hồ sơ di tích còn lưu trữ tại đình Quán La, ngôi đình này xưa kia có tên là Quán Già La. Đình và chùa Khai Nguyên vốn là một quần thể di tích gắn liền với nhau. Tên “Già La” bắt nguồn từ địa bàn này có con sông Già La chảy qua. Còn trong sách Tây Hồ chí có ghi, quán nằm trên đỉnh của gò Thất Diệu. Quán thờ Huyền nguyên đại đế.
Vào niên hiệu Khai nguyên đời Đường, Thứ sử Quảng Châu là Lư Hoán làm đô hộ Giao Châu thấy đất đai bằng phẳng, sông Già La chảy quanh, phong cảnh đẹp đẽ nên xây quán và đề biển là quán Khai Nguyên, ý muốn biểu dương công đức nhà Đường. Tuy nhiên, nhiều người vẫn gọi theo tên cũ là quán Già La.
Đến thời Lý thì quán này vẫn còn. Các vua Lý vẫn thường ra du ngoạn, lại thấy ở dưới chân núi có hang sâu và dài, sai người xây bậc và gọi là động Thông Thiền. Đến thời Hậu Lê thì địa danh này được đổi thành Quán La.
Theo Tây Hồ chí, gắn với ngôi quán này cũng có nhiều huyền tích. Ngoài ra,còn có nhiều người đồn thổi đây còn là nơi cất giữ của cải của người Tàu, có thông tin cho rằng là địa đạo kháng chiến chống quân Nguyên hay quân Minh gì đó... Hay trong sách Danh tích Tây Hồ còn đưa ra truyền thuyết cho đây là hầm luyện đan sa. Thông thường việc luyện đan phải bí mật, kín đáo nên phải luyện trong hang sâu dưới đất... Cùng trong Tây Hồ chí, một đoạn khác nói về động Thông Thiền lại cho rằng Vua Lý thường ra khu vực này chơi, thấy hang uốn lượn khá đẹp bèn lệnh cho thợ xây nhà và đặt tên là động Thông Thiền, nay vẫn còn.
Theo một số sử liệu khác thì nhân vật xây dựng quán Già La lại mang tên Lô Ngư. Lô Ngư là một quan Thái thú, qua làm Đô hộ nước Nam Giao ta, chính lệnh được dân tin mến, yêu như người nhà, thân như cha con. Lúc nhàn hạ lập đền thờ thần, phụng sự vị Huyền Nguyên Đế Quân. Đế Quân là vị thần trên trời, người phàm tục chưa dễ cảm thâu được.
Lô Ngư thấy đất đai bằng phẳng rộng rãi, cây cối xanh tươi, phía sau lại gối sông Già La, thực là một nơi thắng cảnh, nhân mới xây đắp phủ ly, sáng lập đền miếu, trong miếu thiết thần vị Huyền Nguyên Đế Quân. Lô Ngư đêm mộng thấy một ông đầu bạc đến nói rằng Cái miếu nên đổi tên là quán Khai Nguyên mà thôn cũng nên đổi tên là Khai Nguyên. Quan Đô hộ nghe theo, lại lập bia chép sự tích để biểu dương công đức của vị Thiên tử Khai Nguyên. Thứ nữa lập đền, thiết tượng thần Thổ Địa mà thờ cho hiển thêm oai đức, đền thờ đặt tên là Quán Gia La, mỗi khi có cầu đảo đều có linh ứng, hương hỏa còn mãi.
Còn theo website 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, chỉ có một thông tin chung chung là vào năm Tân Tị - 1101, xây quán Khai Nguyên cùng với việc tu sửa chùa Diên Hựu. Một số tài liệu cho rằng, quán Già La được xây dựng để thờ Lão Tử và các vị thần khác của Đạo giáo.
Các tài liệu chưa thực sự thống nhất và rõ ràng về việc xây dựng quán Khai Nguyên là do người Tàu đô hộ xây dựng hay nhà Lý xây dựng cũng như những thông tin về việc thờ tự. Tuy nhiên, có thể sơ bộ kết luận đình Quán La ngày nay vốn là quán Khai Nguyên. Ngôi quán này vào cuối đời Trần được dân làng lập thành nơi thờ Sơn thần là bà Duệ Trang. Đến nay, đình Quán La vẫn còn lưu lại một khu văn chỉ thờ Lão Tử.
Ngay trong sách Tây Hồ chí đã cho biết, những huyền tích kỳ bí liên quan đến đình Quán La chủ yếu là được truyền miệng. Còn những năm gần đây, các nhà khảo cổ cho biết đây chính là một ngôi mộ cổ có niên đại từ đời Hán. Mộ có ngách chứng tỏ chủ nhân của ngôi mộ là người có vai vế trong xã hội. Các ngách thường được dùng để đồ tuỳ táng.
Tuy nhiên, những ngách này từ lâu đã không còn thứ gì chứng tỏ nó đã từng bị đào bới. Căn cứ vào mô tả về những đường hầm ngoằn nghèo như địa đạo và cửa hang cuốn vòm, xây dựng bằng gạch múi bưởi, có ô trám và chữ Hán..., nhiều chuyên gia chưa đến địa hình cũng phán đoán đây là một ngôi mộ Hán.
Ngay sau khi thông tin về đình quán La với những đặc điểm kỳ lạ dưới nền đình, GS Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã trực tiếp xuống khảo sát tại đình Quán La. GS Lê khẳng định công trình dưới nền đình Quán La là một ngôi mộ Hán. Các mộ dạng này xuất hiện nhiều ở Việt Nam . Tuy nhiên, cho đến nay thì vẫn không ai xác định được danh tính và thân phận của nhân vật được chôn tại khu mộ này ngoài phán đoán của sách Tây Hồ chí.
Mộ Hán là tên chỉ chung loại di tích mộ táng có niên đại Đông Hán - Tuỳ Đường của người Hán ở Việt Nam . Mộ thường có một quách gạch vòm uốn (đơn hoặc song táng), mặt bằng hình chữ nhật hoặc hình chữ T, trong đặt quan tài gỗ kèm theo nhiều đồ tuỳ táng (công cụ, vũ khí, đồ dùng...) bằng đồng, sắt, gốm... bên ngoài phủ đất kín như một gò nhỏ. Quy mô, mặt bằng, hiện vật, đồ tuỳ táng của mộ có thể thay đổi theo thời gian. Mỗi ngôi mộ lại có những đặc điểm khác nhau.
Tại Việt Nam đã từng tìm thấy nhiều ngôi mộ Hán với quy mô hoành tráng mà nhiều người ví ngang ngửa như toà lâu đài. Các mộ này tuỳ theo chức vụ của người chết mà được xây dựng theo quy mô nào. Có những ngôi mộ còn được cho rằng có lính gác canh phòng cẩn mật. Có nhiều ngôi mộ được chôn theo các đồ tuỳ táng quý giá nên mộ Hán được những kẻ trộm cổ vật rất chú ý và săn lùng.
Để xây dựng được lăng mộ này, người ta phải chuẩn bị một lượng gạch rất lớn. Khoảnh đất rộng được đào sâu xuống lòng đất để làm móng. Những viên gạch Hán, có hoa văn được xếp khít, không cần chất kết dính. Những viên gạch hình múi bưởi được xếp làm vòm cuốn. Sau khi ngôi mộ rộng hơn trăm mét vuông hoàn thành, quan tài, đồ đạc chia cho người chết được đưa vào, rồi các cửa vòm được lấp kín lại. Quá trình lấp mộ là một kỳ công. Hàng ngàn người đào đất để lấp mộ cao như một ngọn núi, tới vài chục mét, rộng hàng ngàn mét vuông.
Theo kinh nghiệm của một số chuyên gia thì những nơi có gò cao nổi lên và gần đó có một chiếc hồ thì khả năng dưới chiếc gò ấy là mộ Hán rất cao. Sự xuất hiện của chiếc hồ chính là từ việc đào đất lấp mộ mà thành. Các ngôi mộ này thường bị quan lại phương Bắc bắt nhân dân lưng xây mộ hàng năm trời cho quan lại người Hán. Những người phải xây mộ này không khác nào những nô lệ luôn phải chịu cảnh roi vọt tàn nhẫn, trong khi nhà không có ở, cơm không có đủ ăn...








