Di dân ra đảo - Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc
Việt Nam có khoảng 3000 đảo và quần đảo lớn nhỏ. Theo GS Lê Đức An, tính đến cuối năm 2004 hệ thống đảo ven bờ của nước ta là đối tượng di dân chủ yếu bao gồm 10 huyện đảo trực thuộc 7 tỉnh và thành phố, 11 xã đảo, 1 phường đảo và hàng trăm đảo khác thuộc các đơn vị hành chính trên bờ. Các huyện đảo ven bờ có thể phân chia thành ba nhóm là các nhóm huyện đảo tiền tiêu - biên giới (Cô Tô, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ), nhóm huyện đảo tiền tiêu (Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo) và nhóm huyện đảo tuyến trong (Vân Đồn, Cát Hải, Kiên Hải).
Về các điều kiện tự nhiên, hệ thống đảo ở nước ta ngoài 2 vùng đảo - biển là các quần đảo san hô còn 5 vùng đảo - biển ven bờ với 13 cụm đảo. Các đảo, cụm đảo và vùng đảo - biển này có vị thế vô cùng quan trọng được xem như một vùng tài nguyên là tài nguyên vị thế, có nguồn tài thiên nhiên quý giá và phong phú về khoáng sản, hệ sinh thái, cảnh quan. Điều kiện tự nhiên của các đảo này nhìn chung có nhiều khó khăn về nguồn nước, khí hậu, đất đai, thiên tai…
Trong quá trình thực hiện việc di dân ra đảo, nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và thực thi các giải pháp cụ thể, đồng thời được sự quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp chính quyền, các ngành ở trung ương và địa phương, đã thu hút được sự tham gia của đông đảo lực lượng nhân dân cùng hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội nên đã đạt được nhiều thành quả to lớn làm thay đổi diện mạo vùng biển nước ta, phát triển kinh tế xã hội cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản lý 12 huyện đảo trong cả nước. Về điều kiện kinh tế - xã hội, các huyện đảo đã có những bước phát triển rõ rệt về kinh tế - xã hội, tuy vậy vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn như cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, bất cập, đặc biệt là việc đi lại, thiếu nước, thiếu điện, việc học hành, chữa bệnh còn nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, một số chính sách và biện pháp đã thực thi thích hợp với giai đoạn trước đây, đến nay không còn phù hợp cần được bổ sung, điều chỉnh. Việc đề ra những định hướng và giải pháp để thực hiện chính sách di dân ra đảo trong tình hình nước ta rất cấp bách, có thể tạo ra các bước đột phá mới trong công cuộc phát triển kinh tế hướng ra biển phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước của khu vực trong giai đoạn trước mắt và trong tương lai.
Trước thực tế này, Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ định Tổng cục Biển và Hải đảo thực hiện đề tài: "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của việc hoạch định chính sách ưu tiên, định cư ổn định dân trên các đảo của Việt Nam ". Đề tài sẽ nghiên cứu các đảo và quần đảo của Việt Nam . Nhà nước sẽ xây dựng cơ sở vật chất, mỗi người có một ngôi nhà, trên đảo cũng có những hạ tầng tối thiểu như đường, trường học, bệnh viện… Nhà nước cũng xây dựng những phương thức hoạt động sản xuất gắn với họ như đánh bắt hải sản, trồng trọt, đảm bảo người dân ra đảo là có công việc ngay, hướng đến ổn định, phát triển bền vững. Ngoài ra, những cư dân mới họ cũng sẽ nhận được hỗ trợ kinh phí từ nhà nước, cùng với thu nhập từ công việc trên đảo, đảm bảo cho họ có thu nhập tốt hơn so với ở trong đất liền. Đặc biệt, phải đưa một số nhà doanh nghiệp, có tiềm lực tài chính, trình độ khoa học kỹ thuật, nhân công… ra các đảo làm kinh tế, có thể làm du lịch… Như đảo Bái Tử Long, ở đó có điều kiện tự nhiên rất tốt, có cả biển và rừng với độ che phủ gần như 100%, mới đây còn phát triển hai ổ rùa lên đẻ trứng, có khả năng phát triển du lịch sinh thái rất thuận lợi.
Định hướng cho chính sách di dân ra đảo.
Phải gắn chặt giữa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với việc giữ vững chủ quyền, bảo vệ an ninh quốc phòng trên vùng biển - đảo. Đối với nhiều đảo, cụm đảo, vùng đảo-biên giới cần có chính sách ưu tiên cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên đảo phục vụ quốc phòng và phát triển kinh tế, cần quy hoạch bố trí dân cư, sản xuất kinh doanh phục vụ mục tiêu chung là an ninh quốc gia, bảo vệ quốc phòng.
Đối với các huyện đảo tiền tiêu các ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng và bố trí dân cư phục vụ việc đánh bắt cá và giao thông hàng hải. Đối với các huyện đảo tuyến trong cần tập trung nguồn lực cho việc phát triển kinh tế và có điều kiện tốt để phục vụ quốc phòng.
Phải xác định việc di dân ra đảo là nhằm định cư ổn định lâu dài phục vụ chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển bền vững kinh tế - xã hội biển đảo trước hết là đến năm 2020.
Chính sách ra đảo phải dành được sự quan tâm và đầu tư thích đáng, có hiệu quả của Trung ương, các ngành và các địa phương được cụ thể hóa phù hợp với đặc điểm của các đảo, các nhóm đảo, huyện đảo với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau.
Các giải pháp cho việc thực hiện chính sách di dân ra đảo.
Xây dựng và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng trước hết là đường giao thông (nội bộ trên đảo, giữa các đảo và đất liền bao gồm đường sá, cầu tàu, bến tàu) nước sạch (phục vụ sinh hoạt và sản xuất), điện và các cơ sở vật chất kỹ thuật khác như chợ, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa…
Khuyến khích đầu tư hỗ trợ vốn, tạo mọi điều kiện cho các ngành, các tổ chức và cá nhân phát triển kinh tế, chú trọng ưu tiên các ngành khai thác, chế biến thủy hải sản, dịch vụ (phục vụ sửa chữa phương tiện vận tải, đánh cá, phát triển du lịch).
Hỗ trợ ổn định dân cư trên đảo bao gồm việc cấp đất, hỗ trợ xây dựng nhà ở, bố trí công ăn việc làm cho các thành viên trong gia đình, có điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa tinh thần.
Phát triển giao thông biển - đảo và cầu nối giữa biển đảo với đất liền với các phương tiện vận tải thuận tiện, an toàn và rẻ tiền.
Huy động các nguồn vốn để phục vụ cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội trên các đảo.
Căn cứ vào thực tiễn thực hiện chính sách di dân ở nước ta trong hơn năm mươi năm qua với những bài học và những kinh nghiệm quý giá đã đúc kết được, căn cứ vào các định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và chiến lược biển nói riêng trong giai đoạn mới, trước hết là đến năm 2020, chính sách di dân của chúng ta cần:
Có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và giữ vững chủ quyền, bảo đảm an ninh quốc phòng trên vùng biển; Chính sách di dân khẳng định nhất quán với việc định cư, ổn định dân lâu dài trên đảo nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững; Chính sách di dân phải thực hiện được những ưu tiên, ưu đãi của nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi, khắc phục những khó khăn nhanh chóng ổn định đời sống dân cư trên đảo, phát triển kinh tế - xã hội mang lại sự phồn vinh cho đảo và nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Để thực hiện tốt các chính sách trên, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trước mắt cũng như lâu dài sau: Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng trước hết là đường giao thông nước sạch, điện và các cơ sở vật chất kỹ thuật khác; Khuyến khích đầu tư hỗ trợ vốn, tạo mọi điều kiện cho các ngành, các tổ chức và cá nhân phát triển kinh tế; Kịp thời đúc rút kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến, nhân rộng các mô hình thích hợp trong việc tổ chức di dân, ổn định nơi ăn ở lâu dài, phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả cao. Tăng cường việc tuyên truyền cuốn hút mọi thành phần kinh tế, nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển các đảo, xây dựng quê hương mới có nhiều tiềm năng và triển vọng to lớn./.








