Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 25/03/2010 18:29 (GMT+7)

Đê Hoàng Các trên quê hương Lê Nhân Quý

Làng Kim Cốc, xã Mai Lâm, huyện Tĩnh Gia ngày nay thuộc vùng đất trại Bà Hoà xưa kia, có sông Bà Hoà chảy qua. So với các vùng đất khác của tỉnh Thanh Hoá nói chung, và huyện Tĩnh Gia nói riêng, đấy là một vùng được sử liệu nhắc đến rất sớm. Từ thời Tiền Lê, vào năm 983 Lê Đại Hành đã cho đào kênh từ núi Đồng Cổ (Yên Định – Thanh Hoá) đến sông Bà Hoà (Tĩnh Gia – Thanh Hoá)… Từ đó sông Bà Hoà trở thành con đường giao thông thuỷ quan trọng từ Nam Thanh vào Bắc Nghệ. Đến thời Lý vào năm 1041, khi Lý Thái Tông có ý định đánh chiêm Thành, đã giao cho Lý Nhật Quang (2) làm một “hoành doanh” dọc theo sông Bà Hoà. “Hoành doanh” ở vào một vị trí hiểm trở, kiên cố. Bốn mặt có hào sâu, luỹ cao, còn ở trong là nền đất rộng có thể chứa được ba, bốn vạn quân lưu thủ, ngoài ra lại có các kho tàng chứa vật dụng, và lương thực thì dự trữ đủ dùng trong ba năm liền. Xung quanh đặt các điếm canh, ngày đêm tổ chức tuần tra canh phòng cẩn mật.

Khi được cử cai quản vùng Nghệ An, Lý Nhật Quang không chỉ lập một “hoành doanh” ở đây mà còn cho đào sông từ cực nam Thanh Hoá qua Diễn Châu đến bờ bắc sông Lam, tạo thành một tuyền giao thông thuỷ thông suốt từ sông Bà Hoà (Tĩnh Gia – Thanh Hoá) đến sông Lam (Nghệ An). Ba năm sau (1044) Lý Thái Tông cất đại quân đi đánh Chiêm Thành và khi chiến thắng dẫn quân trở về tới hoành doanh Bà Hoà thì vua Lý Thái Tông nghỉ lại. Nhật Quang đón tiếp nhà vua và sắp xếp nơi ăn nghỉ cho quân sĩ đầy đủ, chu đáo. Nhà vua thấy kho tàng cùng nhiêu nơi khác sắp đặt gọn gàng, xem xét các giấy tờ sổ sách, thấy ghi chép cẩn thận, rõ ràng đâu ra đấy đã hết lời khen ngợi. Nhà vua rất hài lòng, thăng cho Lý Nhật Quang từ tước hầu lên tước vương, lại cho cai quản thêm một lộ mới cùng với châu Nghệ An.

Có thể nói từ trại Bà Hoà thời Tiền Lê đến “hoành doanh” thời Lý do Lý Nhật Quang xây dựng trên vùng đất có sông Bà Hoà chảy qua mà hiện nay gồm các xã Hải Thượng, Trường Lâm, Tân Trường, Mai Lâm đã có một vị trí quan trọng của khu vực Tam Thanh - Bắc Nghệ mà từ thế kỷ X đã được các triều đại quan tâm. Trong đó khu vực xã Mai Lâm ngày nay ở vào vị trí “đắc địa” cửa ngõ vào trấn giữ con đường sông từ cửa Lạch Bạng vào Nghệ An và ngược lại.

Việc đào sông trên vùng đất này còn được các triều đại sau tiếp tục tiến hành.

Trên vùng đất Thanh Hoá nói chung và Tĩnh Gia nói riêng vào thời Trần công cuộc đào sông cũng được nhà Trần chú ý. Năm 1231 nhiều dòng sông bị tắc, vua Thái Tông sai hoạn quan Nguyễn Bang Cốc đem quân bản phủ đào kênh Trầm, kênh Hào từ Thanh Hoá đến Diễn Châu. Công việc nặng nhọc, khó làm. Xong việc, Nguyễn Bang Cốc được phong là Phụ Quốc thái uý.

Năm 1355 và 1357, Dụ Tông cho đào sông ở Thanh Hoá và Nghệ An. Năm 1374, triều đình còn cho nạo vét những sông đào từ Thanh Hoá đến cửa biển Hà Hoa (Kỳ La, Kỳ Anh, Nghệ Tĩnh). Đến năm 1382, triều đình cho đào tiếp sông ở Tân Bình và Thuận Hoá.

Có thể nói tất cả các công trình đào sông dưới thời Tiền Lê, Lý, Trần đều liên quan đến vùng Thanh - Nghệ đều không thể không đi qua vùng đất của Kim Cốc – Mai Lâm ngày nay.

Đến thời Lê sơ nhiều công trình thuỷ nông khác như đào sông, đào kênh – mương cũng được mở mang hay nạo vét để tươi tiêu cho đồng ruộng. Một số sông đào nối liền với hệ thống sông tự nhiên, vừa nhằm phát triển giao thông đường thuỷ, vừa phát huy tác dụng thuỷ lợi.

Đặc biệt, năm 1467 Lê Thánh Tông cho đào lại các kênh ở Quảng Xương, Đông Sơn, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Nga Sơn, Ngọc Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá. Hệ thống kênh đào này kết hợp với sông ngòi tự nhiên tạo thành một mạng lưới giao thông đường thuỷ ven biển rất thuận tiện và an toàn. Nhân dân cũng quen gọi là “sông nhà Lê” vì nhiều kênh đã đào từ trước nhưng đến thời Lê thì được khơi vét và nối liền thành hệ thống, phát huy nhiều tác dụng trong phát triển kinh tế, đời sống xã hội và cả trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và mở mang đất nước.

Nhà Trần ý thức được rằng muốn bảo vệ mùa màng, nhà cửa, tính mạng một cách ổn định lâu dài phải có quy hoạch đắp đê quy mô theo cả dòng sông. Năm 1248, Thái Tông đặt cơ quan hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách việc đê điều ở các lộ phủ. Đây là một công việc quan trọng, một bước ngoặt to lớn trong lịch sử thuỷ lợi nước ta. Nhà nước trực tiếp tổ chức đắp đê trên các triền sông và có cơ quan chuyên trách chỉ đạo và quản lý. Triều đình đã bỏ ra một số tiền không ít chi tiêu cho công trình vĩ đại này. Việc đắp đê đỉnh nhĩ không chỉ dành riêng vùng đồng bằng sông Hồng mà còn thực hiện ở cả trong Thanh Hoá và Nghệ An. Năm 1255, triều đình còn phải Lưu Miễn tổ chức bồi đắp đê ở Thanh Hoá. Chắc chắn những con đê mà nhà Trần đắp ở Thanh Hoá mới chủ yếu ở hạ lưu các sông lớn như sông Mã, sông Lương… Đắp đê ngăn nước mặn cũng là công cuộc mới mẻ ở thời Trần. Các nhà quý tộc thường cho nô tỳ đắp đê ở bãi biển lập điền trang.

Đến thời Lê những cuộc khẩn hoang của tư nhân và khái phá miền đất bồi ven biển cũng được tiến hành và được Nhà nước khuyến khích. Nhà Lê sơ đã nhiều lần ra lệnh cho các phủ huyện kêu gọi nhân dân mở rộng những công cuộc khẩn hoang và đề ra phép “thông cáo” và “chiếm xạ” tạo cơ sở pháp lý cho người khẩn hoang. Đó là những giải pháp tích cực thúc đẩy công cuộc khẩn hoang của mọi người, nhanh chóng thanh toán tình trạng ruộng đất hoang phế.

Nhà Lê còn khuyến khích mọi người, kể cả quan lại và dân thường, ra sức khai phá đất đai, thành lập trang trại hay xóm làng, nhất là vùng đất bồi ven biển. Năm 1486, vua Lê Thánh Tông “ lệnh cho các phủ, huyện, xã nơi nào có ruộng bỏ hoang ở bờ biển mà người ít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn nộp thuế, thì phủ, huyện xét thực cấp bằng cho làm” (3).

Đê điều và các công trình thuỷ lợi là điều kiện rất quan trọng cho nền sản xuất nông nghiệp lúa nước cũng được Nhà nước chăm sóc xây dựng và bảo vệ. Nhà nước đặt riêng ngạch quan Hà đê chuyên trông nom về đê điều và ngạch quan Khuyến nông để đôn đốc việc sản xuất nông nghiệp. Công việc kiểm tra và tu bổ đê điều được tiến hành hàng năm. Mỗi khi đê vỡ, thì triều đình lập tức phái quan đi khám xét và huy động nhân dân, có khi cả quân lính, công tượng và học sinh Quốc tử giám, tu sửa ngay. Ngoài hệ thống đê sông, ở đồng bằng sông Hồng đê ven biển cũng được xây đắp để ngăn nước mặn và khai khẩn đất bồi ven biển. Đê biển đến đời Hồng Đức, được bồi trúc hoặc đắp bằng đất hoặc kè đá chân đê khá kiên cố nên dân gian thường gọi là “đê Hồng Đức”.

Ở đất Thanh Hoá vào thời kỳ này có nhiều trang trại ở vùng ven biển cũng được lập ra. Ở huyện Hoằng Hoá có các trang Nặc Tài (nay là xã Hoằng Hà), Triều Hải (nay là xã Hoằng Phong), Liên Châu (nay là xã Hoằng Châu). Đặc biệt xã Bột Trung (nay là xã Hoằng Tân) là do một cung phi thời Lê Thánh Tông được “hoàn tông” về quê đã mộ dân hai làng Bột Thượng, Bột Thái (nay là xã Hoằng Lộc) và dân làng Hành Vĩ (nay là xã Hoằng Thịnh, Hoằng Thái) xuống khai khẩn vùng đất hoang ven cửa Hới lập nên xã Bột Trung (4). Nhưng tất cả đều không nhắc đến có đắp đê ven biển như ở Mai Lâm. Điều đó chứng tỏ các vùng đất trên đang còn hoang hoá. Còn ở Mai Lâm đắp đê ngăn nước thuỷ triều để cải tạo đất, mở mang diện tích trồng trọt đã khẳng định tính chủ động của quan và dân vùng đất này.

Đê Hoàng Các không tạo ra thêm các làng xóm mới như ở các huyện ven biển khác, nhưng đã làm tăng diện tích ruộng đất canh tác cho dân làng. Những thửa ruộng đất lâu nay bị nhiễm mặn do thuỷ triều lên xuống xâm thực giờ đây đã trở thành những khoảnh ruộng cấy trồng quanh năm. Trên thực địa ngày nay, với đê Hoàng Các giá trị không chỉ tạo ra một tiện tích trồng trọt (vì diện tích đất đai được đê bao quanh cũng không lớn), mà quan trọng hơn là ý chí “dời non lấp biển” và tạo thành một trào lưu ngăn nước biển, cải tạo chất đất, tăng diện tích canh tác ở các vùng ven biển Thanh Hoá.

Đê Hoàng Các là một con đê nhỏ chỉ dài khoảng 1km, không ngăn nước vào mùa lũ mà chỉ ngăn nước mặn từ cửa biển Lạch Bạng theo sông Bà Hoà vào khu vực làng Kim Cốc. Có thể nói đây là con đê ngăn nước mặn từ biển xâm nhập vào đất liền đầu tiên của vùng đất Tĩnh Gia. Đó là nguồn tư liệu quý để giúp chúng ta lý giải được vì sao dưới thời Lê sơ nhất là đời vua Lê Thánh Tông nền kinh tế nước ta có những bước phát triển vượt bậc, góp phần không nhỏ xây dựng Quốc gia Đại Việt trở thành một Quốc gia hùng cường ở khu vực Đông Nam Á, người dân Kim Cốc với danh nhân Lê Nhân Quý nói riêng và Tĩnh Gia nói chung có phần đóng góp tạo dựng nên.

______________

1. Lê Nhân Quý đại tộc phả kýdo ông Lê Ngọc Trà cung cấp, tr 19.

2. Lý Nhật Quang là con trai thứ 8 của Thái Tổ Lý Công Uẩn, hiệu là Bát Lang hoàng tử, mất năm Đinh Dậu (1057).

3. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, HN 1972, T3, tr. 297.

4. Lịch sử Thanh Hoá, T3, Nxb KHXH, H 2000, tr 107.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.
Đại hội Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 01 và 02/10/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Cần Thơ đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. ThS. Bùi Minh Châu, nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Chấp hành gồm 36 thành viên.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026
Từ ngày 27/9 đến 3/10, tại Đại học Khoa học - Công nghệ Sirius, Lãnh thổ Liên bang Sirius, Liên bang Nga, đã diễn ra Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026 - một trong những diễn đàn chuyên ngành lớn của Nga về phát triển vi điện tử, cơ sở linh kiện điện tử và các công nghệ điện tử liên quan.
5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.