Để đạt mục tiêu sản xuất 2 triệu tấn muối vào năm 2020
Định hướng có tính xuyên suốt của quy hoạch là mục tiêu phát triển ngành muối đến năm 2020 theo hướng công nghiệp, hiện đại và bền vững trên nền tảng khai thác tối đa và tập trung nào vùng tài nguyên muối hàng hóa có lợi thế so sánh như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận…nhằm tạo cơ sở vật chất và tiền đề để từng bước hình thành tổ hợp công nghiệp muối và hóa chất nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích từ tổ chức khai thác triệt để các sản phẩm hóa công có trong nước ót (nước thải trước khi thu hoạch muối )mà một số trong đó phải nhập khẩu từ nhiều năm này cho nhu cầu sử dụng trong nước.
Những mục tiêu về gia tăng sản lượng, diện tích sản xuất mang tính định hướng lớn trên quy mô vùng và khu vực, là hướng quy hoạch mở phù hợp với chủ trương giao mạnh quyền tự quyết cho địa phương, tự chủ trong việc lựa chọn ngành và lĩnh vực mũi nhọn, ưu tiên để phát triển kinh tế đa phương, chống quy hoạch treo.
Điểm mới so với quy hoạch 980/1997/QĐ-TTg, vùng muối có năng suất thấp do điều kiện sản xuất không thuận lợi, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ dẫn đến thu nhập thấp, không bảo đảm cuộc sống cho người dân, nếu không đủ điều kiện nâng cấp, cải tạo để có năng sất lao động cao hơn sẽ có chính sách và kế hoạch chuyển đổi sang ngành nghề khác được sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc sắp xếp lại cơ cấu lao động, dân cư, trong đào tạo nghề, di dân, lập vùng kinh tế mới để bảo đảm cuộc sống cho người dân (khoảng 3.173ha thuộc diện phải chuyển đổi liên quan đến 37.000 lao động chính đến năm 2015). bảo đảm nguồn nhân lực trong nghề muối thời kì tới phần lớn phải dược đào tạo tay nghề, tiếp thu trình độ sản xuất muối tiên tiến của thế giới và khu vực có thu nhập cao.
Tư tưởng phát triển, nâng cấp ngành muối trên quan điểm xã hội hóa các lĩnh vực đầu tư và khai thác đã được thể hiện rõ trong việc huy động các nguồn lực vốn từ các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được bình đẳng trong thực thi các chính sách chung về ngành muối (thuộc danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư được ban hành kèm theo Nghị định 108/ 2006/ NĐ-CP ngày 22/ 09/2006 của Chính phủ), đồng thuận với chủ trương đang được triển khai mạnh mẽ chuyển phàn lớn doanh nghiệp nhà nước trong ngành muối thành công ty cổ phần trong vài năm tới.
Việc ban hành kịp thời Quyết định 161/ 2007/ QĐ-TTg trong thời điểm này là thể hiện sự quan tâm thấu đáo của Nhà nước đối với ngành muối, đồng thời cũng mở ra một thời kì mới cho ngành muối và đã được khởi động.
Là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù và nhạy cảm, nên trong tiến trình thực hiện các cam kết thực hiện lộ trình khi nước ta gia nhập WTO, ngành muối được tiếp tục thực hiện hạn ngạch thuế quan 200 nghìn tấn muối/năm. Là một trong bốn danh mục mặt hàng được Việt Nam đưa ra thảo luận trong hội thảo quốc tế “tác động của vòng đàm phán Đô-Ha đối với Việt Nam” vừa diễn ra tại Hà Nội (13/ 3/ 2007) muối là một trong 4 mặt hàng quan trọng được Nhà nước quản lý cùng trứng gia cầm, đường và thuốc lá. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng đây là thời kì “ân hạn” và những ưu đãi có điều kiện để ngành muối khẩn trương chuẩn bị hành trang cho hội nhập, một sân chơi bình đẳng trên thương trường quốc tế, nếu ỷ lại và chậm trễ sẽ mất thời cơ.
Để đạt được mục tiêu sản xuất hai triệu tấn muối vào năm 2020, trong đó có 1,35 triệu tấn muối công nghiệp chất lượng cao trên 14.500ha diện tích sản xuất, trong đó 5.500 ha được xây dựng mới từ các vùng tài nguyên muối tiềm năng, so với sản xuất và thực trạng hiện nay thì đây là một nhiệm vụ rất nặng nề đòi hỏi nỗ lực vượt bậc không chỉ của riêng ngành muối. Cần cụ thể hóa việc hướng dẫn triển khai và thực hiện quy hoạch với các lộ trình cụ thể và việc trước tiên là các địa phương có sản xuất muối cần chủ động rà soát lại quy hoạch muối trên địa bàn theo yêu cần định hướng và quan điểm mới của quy hoạch 161/ 2007/ QĐ –TTg. Đồng thời ngành muối phối hợp với các bộ, ngành liên quan thành lập các tổ công tác liên ngành đi sâu vào một số chuyên đề lớn như khảo sát lại toàn diện thực trạng kinh tế - xã hội các vùng sản xuất muối có năng suất thấp, đời sống sân cư khó khăn kéo dài, từ đó kiến nghị giải pháp và cơ chế chính sách sắp xếp lại sản xuất chuyển đổi diện tích sản xuất hợp lý, có điều kiện và có lộ trình thực hiện chủ động. Tổ công tác liên bộ cùng với ba địa phương cực nam Trung Bộ có vùng tài nguyên muối tiềm năng, rà soát lại, tìm kiếm và đề xuất quỹ đất mới có khả năng xây dựng các đồng muối tập trung quy mô vừa và lớn làm cơ sở hình thành đề án xây dựng khu công nghiệp tổ hợp muối – hóa chất trình Chính phủ phê duyệt làm nền tảng và mô hình phát triển ngành muối, ngành hóa chất cơ bản từ muối và sau muối theo mục tiêu của quy hoạch vừa được ban hành.








