Dạy và học ngoại ngữ - một số vấn đề nên cân nhắc
Ngoại ngữ hay ngôn ngữ?
Trong ngữ cảm của người Việt, ngoạingữ là thứ tiếng của một ngoạiquốc (“ngoại ngữ = tiếng nước ngoài” – Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên), có lẽ là do từ lâu người ta quen dịch étranger(Pháp ) và foreign(Anh ).Thật ra , étranger vàforeignkhông phải chỉ có nghĩa là “của nước ngoài” mà còn có nghĩa “không phải của mình” nữa. Như vậy tiếng Ba Na ở Tây Nguyên là langue étrangèrevà foreign languagevới người Kinh, nhưng bảo nó là ngoạingữthì nghe nó “thế nào ấy” vì nó có thuộc một nước ngoài khác đâu. Trong một nước như Thuỵ Sĩ, học sinh thuộc cộng đồng nói tiếng Pháp học langue étrangèrelà tiếng Đức, vốn lại là ngôn ngữ mẹ đẻ của cộng đồng nói tiếng Đức cũng ngay trên đất nước này, và đến lượt cộng đồng này lại học cái langue étrangèrelà tiếng Pháp. Do vậy, để cho “danh chính ngôn thuận”, có lẽ chỉ có hai cách: 1. dùng “ngôn ngữ” thay vì “ngoại ngữ”, vì như vậy khi nói về chính sách ngôn ngữ có thể bao chứa được mọi trường hợp: chính sách ngôn ngữ cho dân tộc Kinh, chính sách ngôn ngữ đối với các dân tộc thiểu số, chính sách ngoại ngữ (?). Trung Quốc có lúc đã có Học viện ngôn ngữ(chứ không phải ngoại ngữ)trong đó dạy các ngoại ngữ và cả Hán ngữ cho người nước ngoài. Sự phân biệt chỉ bắt đầu giữa ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai, thứ ba, v.v., và 2. định nghĩa lại và phổ biến sâu rộng định nghĩa về ngoại ngữ: “ngoại ngữ = ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ” (chứ không phải chỉ là tiếng nước ngoài).
Việc xác định này rất quan trọng cho việc hoạch định kế hoạch học tập ngoại ngữ, bởi vì ngay từ ngôn ngữ thứ hai (sau ngôn ngữ mẹ đẻ, được coi là thứ nhất), người học đã phải có một sự bỏ công sức đáng kể. Chính sách giáo dục ngôn ngữ của Ixraen (2) quy định rõ tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ(tiếng nước ngoài), vì ở nước này ngoài ngôn ngữ chính thức là tiếng Hêbrơ (Do Thái), còn có một bộ phận rất lớn dân chúng nói các thứ tiếng A Rập, Nga...
Học các ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ để làm gì?
Càng ngày người ta càng nhận thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong một thế giới ngày càng gần gụi nhau như một “ngôi làng toàn cầu”. Có thể kể ra vô số lý do nên và cần phải học một hoặc nhiều thứ ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ:
1. Học ngoại ngữ nâng cao được năng lực tư duy nhận thức và phê phán của người học,
2. Học ngoại ngữ nâng cao được năng lực của người học trong việc so sánh và đối chiếu các khái niệm văn hoá,
3. Ngoại ngữ rất cần thiết cho công việc ngoại giao và quốc phòng,
4. Ngoại ngữ rất cần thiết cho công việc trao đổi về thương mại,
v,v.
Thậm chí có lúc đã được cường điệu đến mức “việc học ngoại ngữ sẽ có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển nhận thức của người học, cho nền kinh tế quốc gia của chúng ta, cho nền an ninh quốc gia của chúng ta” (3).
Khi có xung đột tức là có sự không hiểu nhau, đặc biệt là không hiểu sự khác biệt của người khác, không hiểu văn hoá của người khác. Thông qua ngoại ngữ, người ta hi vọng sự hiểu biết các nền văn hoá khác nhau sẽ làm cho thế giới ngày càng gần gũi nhau, hiểu biết nhau hơn, bớt đi những xung đột va chạm không đáng có.
Ai học (những) ngôn ngữ gì?
Có thể tạm chia hai loại: 1.ngoại ngữ cho trường phổ thông và đại học không phải đại học chuyên ngoại ngữ (ví dụ như tiếng Anh cho sinh viên khoa dược), 2.ngoại ngữ cho trường chuyên ngoại ngữ (ví dụ như tiếng A Rập cho sinh viên khoa A Rập) - đại học hay không đại học.
Ở đây có vấn đề tuỳ chọn và bắt buộc: người học được tuỳ chọn học thứ ngoại ngữ mà mình thích hay không có cách lựa chọn nào khác nếu đã vào một trường nào đó. Chương trình học là một hay hai ngoại ngữ (một bắt buộc, một tuỳ chọn, hay cả hai bắt buộc) cũng lại đặt ra vấn đề tính toán phức tạp về tuỳ chọn và bắt buộc.
Bao nhiêu ngoại ngữ cũng là vấn đề cần cân nhắc. Sức lực con người có hạn, chắc chắn không thể học cùng lúc nhiều thứ ngoại ngữ được. Song nên có hai thứ ngoại ngữ thật lưu loát hay nên có ba bốn thứ tuy không lưu loát nhưng đủ giao tiếp tạm. Cộng đồng châu Âu đã chọn giải pháp thứ hai để thích ứng với một châu Âu nhất thể hoá nhanh chóng (4).
Là môn chính hay phụ trong nhà trường?
Cho đến nay, hầu như ở đâu, người cũng đều đã đưa ngoại ngữ vào nhóm các môn chính trong chương trình giáo dục phổ thông, dường như không có gì phải bàn cãi nữa. Có lẽ chỉ trừ hai nước Mĩ và Anh vốn trước đây thường có tâm lí là thứ tiếng của họ đủ để giao tiếp trên toàn thế giới rồi, nên ít chú trọng đến ngoại ngữ. Gần đây, quan niệm này đã có nhiều thay đổi.
Bắt đầu học từ bao giờ?
Xin lấy ví dụ từ một số quốc gia:
Ở Thuỵ Sĩbắt đầu học ngoại ngữ từ lớp 3, 4 , 5, 6, tuỳ địa phương. Số giờ như sau:
- Lớp 4: 2 tiết x 45 phút/ tuần; lớp 5: 3 tiết; lớp 6: 3 tiết; 39 tuần một năm
- Lớp 7: 5 tiết x 50 phút/tuần; lớp 8: 4 tiết; lớp 9: 4 tiết; 38 tuần một năm.
Ngoại ngữ thứ hai thường được bắt đầu ở lớp 8.
Ngoại ngữ thứ ba thường được bắt đầu ở lớp 8 hoặc lớp 9 chỉ có đôi nới ở lớp 7.
Ở Iran, trung học cơ sở học ngoại 200 phút/tuần (=9% chưng trình học), trung học phổ thông 180 phút (=7%).
Ở Na Uy, tiếng Anh là môn bắt buộc cho tất cả các năm học phổ thông. Nếu học thêm ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh thì có thể bắt đầu ở trung học cơ sở, nhưng không bắt buộc; song lên đến trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp thì ngoại ngữ 2 lại là bắt buộc.
Hầu hết các nước châu Âuđều đã cho học ngoại ngữ ngay từ cấp tiểu học (chỉ trừ Anh, cộng đồng nói tiếng Flamand ở Bỉ, Bungari, và Xlôvakia). Trong khi đó, lại có những nước đưa tuổi bắt đầu học ngoại ngữ sớm lên đôi chút, như ở Malte trước 6 tuổi, ở Ao, Na uy. Lúcxămbua 6 tuổi, ở Y, Phần Lan, Thuỵ Điển, Extônia 7 tuổi.
Uỷ ban các Cộng đồng châu Âu cho rằng nên bắt đầu sớm việc dạy “Tiếng mẹ đẻ và hai thứ ngôn ngữ khác nữa”. “Các quốc gia thành viên cần phải dành ưu tiên cho việc đảm bảo việc dạy ngôn ngữ có hiệu quả ở mẫu giáo và tiểu học, vì chính ở đây là nơi hình thành các thái độ then chốt (key attitudes) đối với các ngôn ngữ và văn hoá khác, và là nơi đặt nền móng cho cơ sở của việc học ngôn ngữ sau này. Hội đồng châu Âu ở Barcelona kêu gọi cần “hành động thêm nữa... nhằm nâng cao khả năng nắm vững các kĩ năng cơ bản, nhất là trong việc dạy ít nhất hai ngoại ngữ ngay từ tuổi còn rất nhỏ. (...) Những cái lợi của việc học sớm các ngôn ngữ - gồm cả việc nắm vững được các kĩ năng tốt hơn trong tiếng mẹ đẻ – chỉ được tăng lên khi giáo viên được đào tạo chuyên để dạy ngôn ngữ cho những trẻ rất nhỏ tuổi, khi các lớp học chỉ có ít học sinh để việc học ngôn ngữ có hiệu quả, khi có đủ tài liệu dạy học thích hợp, và khi có đủ số tiết học dành cho ngôn ngữ. Cần phải có những nguồn lực thích đáng, kể cả những nguồnn lực về đào tạo giáo viên, để ủng hộ cho các sáng kiến về việc đưa việc học ngoại ngữ lên lứa tuổi sớmhơn nữa.
Học ngoại ngữ sớm, các em học sinh sẽ có ý thức về các giá trị và ảnh hưởng văn hoá của chính mình và biét trân trọng các nền văn hoá khác, trở nên cởi mở hơn và biết quan tâm hơn đến người khác. Lợi ích này sẽ bị hạn chế nếu mọi học sinh đều chỉ học cùng một thứ ngôn ngữ: nên có nhiều thứ ngôn ngữ cho học sinh lứa tuổi nhỏ chọn lựa. Cha mẹ học sinh và giáo viên cần được thông tin đầy đủ hơn nữa về những cái lợi của việc bắt đầu cho học sớm này, vàvề các tiêu chuẩn hướng dẫn sự lựa chọn ngoại ngữ thứ nhất của bọn trẻ.”(Hành động I.1.1 đến I.1.5) (5).
Thế nào là đạt một trình độ ngôn ngữ nào đó?
Khi kê khai trong điều tra dân số hay lí lịch, người ta thường có chỗ phải khai: trình độ ngoại ngữ. Một người Vân Kiều nói tiếng Kinh giỏi có kê khai tiếng Kinh là ngoại ngữ không? Một người Việt (nói chung) có chứng chỉ bằng C Anh văn, có được kê khai là biết một ngoại ngữ không? Rất có thể sau này sẽ có cách khai chẳng hạn như Anh văn C, tiếng Nhật B, Pháp văn lớp 5, tiếng Nhật lớp 9, tiếng Trung lớp 12. Và như vậy có nghĩa là sẽ phải có một bộ chuẩn toàn quốc qui định cái A, B, C, lớp 5, lớp 9, lớp 12 phải đạt được cái gì. Khi thống kê thì tính như thế nào là một người song ngữ, tam ngữ, đa ngữ (6),... Điều này nhiều nước đã thống kê được, chẳng hạn 52,7% người châu Âu ngoài tiếng mẹ đẻ còn nói một thứ tiếng khác lưu loát, trong khi đó số này ở người Mĩ là 9,3%, vv..
Đại học ngoại ngữ
Ở một số nước, đại học ngoại ngữ có nghĩa là ngay từ năm thứ nhất, sinh viên đã dùng thứ ngoại ngữ được học đó làm chuyển ngữ, chứ không dùng tiếng mẹ đẻ nữa, nhất là không bắt đầu lại từ phát âm, abc, v.v. vì đã học rất nhiều năm từ phổ thông rồi, không bỏ phí cái vốn đó. Và như vậy nghĩa là thi tuyển vào đại học ngoại ngữ sẽ gồm những môn như thi tuyển vào các đại học khác, có điều là mọi môn thi phải làm bằng thứ ngoại ngữ đó (có thể châm chước đôi chút so với đòi hỏi bằng tiếng mẹ đẻ). Chương trình sẽ là văn, sử, địa, v.v. nghĩa là đất nước học của các quốc gia sử dụng thứ ngoại ngữ đang học đó.
Năm ngôn ngữ (ngoại ngữ)
Theo sáng kiến của Hội đồng Châu Âu (7), năm 2001 được gọi là “Năm châu Âu về các ngôn ngữ”. Ngày 26 tháng 9 hàng năm, 44 nước châu Âu vẫn kỉ niệm “Ngày châu Âu về các ngôn ngữ”.
Trung Quốc sẽ lấy năm 2006 làm “Năm các ngôn ngữ ở Trung Quốc”, nhân tiện để đẩy mạnh việc học ngoại ngữ nhằm chào đón Ôlimpích Bắc Kinh 2008.
Mĩ lấy hai năm 2004 và 2005 làm “Năm học ngoại ngữ” (8).
Việt Nam ta có nên có một sự chuẩn bị để “đánh thức” nhận thức của toàn dân về tầm quan trọng của ngoại ngữ trong thời đại mới này bằng việc đề ra một hình thức nào đó kiểu “năm học ngoại ngữ “ không?
Truyền thống học ngoại văn
Người Việt vốn có truyền thống học ngoại ngữ (đúng ra là ngoại văn– chữ Hán) từ rất lâu đời. Nhưng cách học này có điểm đặc biệt: học chữ Nho, một thứ cổ ngữ hay ít ra thì cũng chỉ là văn ngôn, phát âm theo hệ thống âm Việt, không dùng để nói nhưng lại viết nhiều (làm thơ, văn, v.v.), khi học dịch thường có thói quen dịch từng từ, như “nhân chi sơ” không dịch là “thủa ban đầu của con người”, mà dịch là “người chưng sớm”, chỉ cốt làm cho người học nhớ từ và nghĩa.
Phải chăng cái nếp học kiểu này (đã nhập vào gien?!) đã ảnh hưởng phần nào đến cách học chỉ trọng việc đọc, viết mà kém về mặt giao tiếp nói, nghe.
Ngoại ngữ và bản sắc dân tộc
Về cơ bản, có thể coi các quốc gia như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên là các quốc gia đơn ngữ, vì ở đó có một ngôn ngữ của một dân tộc chủ thể (có đa số áp đảo so với các dân tộc khác cùng chung sống trên lãnh thổ) được dùng làm ngôn ngữ chính thức. Nhưng cũng không phải vì thế mà người ta không coi trọng bảo tồn các ngôn ngữ khác vẫn đang tồn tại và được sử dụng bởi các cộng đồng nói các thứ ngôn ngữ ấy sống trên lãnh thổ các quốc gia ấy.
Dó đó có vấn đề là nên đối xử như thế nào với ba thứ : 1. chính sách ngôn ngữ, 2. chính sách ngoại ngữ và 3. chính sánh giáo dục?Việc dạy và học ngoại ngữ nên nằm trong chính sách giáo dục nói chung hay nên nằm trong chính sách ngôn ngữ ? Với tầm quan trọng ngày càng được công nhận của nó, có lẽ không nên bó chính sách ngoại ngữ trong chính sách giáo dục nói chung mà nên để riêng để có được sự quan tâm thích đáng của công chúng cũng như các cấp quản lý. Song cũng không nên để nó (chính sách ngoại ngữ) nằm trong chính sách ngôn ngữ, vì chính sách ngôn ngữ còn phải chăm lo quá nhiều việc: ngôn ngữ chính thức, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Nếu không biết trân trọng bảo tồn ngay cả những ngôn ngữ chỉ còn số rất ít người nói trên lãnh thổ tổ quốc, sẽ phạm tội diệt ngữ, một tội không nhẹ hơn tội diệt chủng, vì làm mất đi tính đa dạng ngôn ngữ của quốc gia. Gộp chính sách ngoại ngữ vào trong chính sách ngôn ngữ, có lúc ngoại ngữ sẽ lấn át sự quan tâm đối với các ngôn ngữ khác.
Về phương pháp giảng dạy
Có lẽ điểm yếu nhất mà ai cũng nhận thấy trong việc dạy và học ngoại ngữ là trình độ người dạy còn quá thấp và số lượng người học quá lớn trong một lớp học. Không thể tưởng tượng nổi một cô giáo dạy Anh văn trong một lớp trên truyền hình, khi dạy các em học sinh tập đặt câu, các em thì diễn đạt và đối thoại với nhau cả những câu chuyện dài bằng tiếng Anh, nhưng đến khi cô chữa bài thì chỉ chỉ ra những chỗ sai bằng... (than ôi!) tiếng Việt, trong khi đó lại rất hay dùng lặp đi lặp lại các từ Good!, Next, please!, No, Thank you, và chỉ có chừng ấy từ tiếng Anh được phát ra từ miệng cô giáo mà thôi. Hình như đâu đó vẫn còn cái bệnh “sợ” nói ngoại ngữ trong giáo viên ngoại ngữ.
Về tình trạng “mít tinh” 50-60 người học trong một lớp ngoại ngữ cũng không phải là chuyện hiếm.
Giữa cái trục 3: người day – sách giáo khoa – người học, có lẽ yếu tố người dạy là điều quyết định, và cũng đồng thời cũng là điều đòi hỏi đầu tư nhiều công sức và tiền của nhất. Nhiều nước, đặc biệt là Hàn Quốc, cũng đã ý thức được rất rõ ràng vấn đề này (9).
Sau cùng, thay vì chú trọng đọc hiểuvà viết(nhất là trả bài về lí thuyết ngữ pháp, v.v) trong lớp, ngày nay hầu như ở đâu người ta cũng nhấn mạnh đến cái nóivà cái văn hoá.Và đây lại là cái vòng luẩn quẩn cần được giải quyết: muốn dạy nói tốt, và truyền đạt được kiến thức văn hoá về đất nước có thứ ngôn ngữ mà mình học, thì lại phải có giáo viên giỏi.
--------------------
Chú thích
1. Nhìn sang các nước láng giềng, ta cũng thấy có tình trạng tương tự: Hàn Quốc cũng có lúc phàn nàn rất nhiều về chất lượng dạy và học ngoại ngữ, đến nỗi “Bộ Giáo dục Hàn quốc có thể xem xét việc thành lập một uỷ ban như cái Hội đồng ở châu Âu , để làm việc với các bộ ở các nước châu A khác, như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Việt Nam. Dường như tất cả các nước này đều có cùng mục đích là học tiếng Anh giao tiếp cho các mục đích kinh tế và /hoặc quốc tế. Được như vậy, thì một cơ quan kết hợp có thể cùng làm việc để tạo ra một khuôn khổ chung cho các phương pháp và cách tiếp cận chung, các tài liệu và chương trình đào tạo giáo viên” (Báo cáo của Heather Caban tại phiên họp thường kì hằng tháng của chi hội Seoul thuộc hội KOTESOL (Korea Teachers of English to Speakers of Other languages ngày 17-1-2004.)
2.Bộ Giáo dục Ixraen, 15-4-1996.
3. Tiết (a), mục 1, nghị quyết 170 Thượng viện Hoa Kì đặt ra “các năm học ngoại ngữ 2004 và 2005”, khoá họp 108, phiên họp 1, ngày 12-6-2003.
4.“Cần được hiểu là có một khả năng nhất định để giao tiếp đượcbằng nhiều thứ tiếng, chứ không hẳn là nắm vững hoàn toàncác thứ tiếng đó” (các từ ngữ viết đậm là của người viết bài này) – Khuyến nghị số 1539 (2001) của Đại hội đồng Nghị viện của Hội đồng châu Âu về Năm châu Âu về các ngôn ngữ.
5.Thông báo số COM (2003) 449 final ngày 24-7-2003 (Bru-xen-Bỉ của Uỷ ban các cộng đồng châu Âu gửi Hội đồng, Nghị viện châu Âu, Uỷ ban Kinh tế và Xã hội và Uỷ ban các Khu vực, có nhan đề “Đẩy mạnh việc học ngôn ngữ và tính đa dạng ngôn ngữ: một kế hoạch hành động 2004-2006”.
6.Ở đây tôi muốn nói đa ngữ là trường hợp một (hay những) con người biết nói nhiều (trên hai) thứ tiếng (plurilinguisme), xin đừng lẫn với một địa phương đa ngữ (multilinguisme) là địa phương mà người dân ở đó nói nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau, cả ngôn ngữ chính thức cũng như các ngôn ngữ khác. Đáng tiếc là tiếng Việt chưa thấy có hai từ để phân biệt hai khái niệm này.
7. Khuyến nghị số 1539 (2001) của Đại hội đồng nghị viện của Hội đồng châu Âu về Năm châu Âu về các ngôn ngữ.
8. Nghị quyết 170 Thượng viện Hoa Kì, phiên họp 1, khoá họp 108.
9.Tháng 10-2001, Sở giáo dục Seoul (Hàn Quốc) có một bản báo cáo đánh giá tình hình cho biết chỉ có 3,9% giáo viên tiếng Anh trung học có đủ trình độ để đứng lớp chỉ dùng tiếng Anh; còn lại trung bình 82,45% chỉv có thể dùng một phần tiếng Anh trong tiết học... Mỗi năm chỉ có 10,3% tổng số giáo viên tiếng Anh được đi đào tạo. Một giáo viên tiếng Anh (45 tuổi) ở Seoul cho biết: “Tôi đã được học 60 tiết đào tạo cơ bản và 120 tiết đào tạo nâng cao ở Viện đào tạo giáo viên, nhưng có vẻ không đủ” (Báo cáo đã dẫn ở chú th ích 1).
Nguồn: TC Ngôn ngữ - Đời sống, số 4 (114) – 2005.








