Đầu xuân bàn về gia đình và chữ Hiếu
Chữ “hiếu” gắn liền với gia đình. Nhưng thực ra, gia đình là sản phẩm lịch sử của nhân loại chứ đâu của riêng gì phương Đông hay phương Tây. Mẫu hệ, phụ hệ, gia đình… đâu mà chẳng có, quan hệ huyết thống, tình thương máu mủ ruột thịt đâu mà chẳng cần. Nhưng đặc điểm văn hóa khác nhau, cho nên phương Tây lại có chữ “hiếu” của phương Tây, phương Đông có chữ “hiếu” của phương Đông. Khi lịch sử sang trang, kinh tế thị trường phát triển, dân tộc hình thành, cá nhân trở thành trung tâm, ý thức huyết thống dần dần bị bốc hơi, chữ “hiếu” ở phương Tây cũng mờ nhạt dần. Trong khi xã hội phương Tây trở thành cái mà ông Hầu Ngoại Lư gọi là “xã hội thị dân” thì xã hội phương Đông vẫn còn ngủ yên ở “xã hội quân tử”. Kết cấu của xã hội phương Tây là: cá nhân – xã hội, ở phương Đông vẫn là: cá nhân – gia đình – họ hàng – làng nước. Ý thức huyết thống vẫn bền chặt như ngày nào. Bẵng đi một thời gian, phong trào truy tìm gia phả hình như nay lại đang được phục hồi rầm rộ. Thế mới biết ý thức huyết thống của dân tộc quả là “đậm đà” vậy thay!
Ý thức huyết thống – cơ sở của chữ “hiếu”, hình thành từ thời cổ đại, thời canh tác nông nghiệp và cùng với xã hội “con trâu đi trước, cái cày theo sau” chưa thay đổi được bao nhiêu thì đương nhiên làm sao mà nó có thể thay đổi được. Hơn nữa, lại được Nho giáo từ hơn hai nghìn năm trước du nhập vào Việt Nam tiếp sức từ trên xuống cho nên càng thêm bền chặt. Bản thân chữ “hiếu” cũng có cả một pho lịch sử của nó. Chu Dự Đồng gần nửa thế kỷ nghiên cứu kết cấu của chữ “hiếu” cổ đại, phát hiện chữ “hiếu” là tượng trưng của quan niệm phồn thực cổ xưa. Đó là hình tượng quan hệ nam nữ ở bên trên và kết quả của nó là “quý tử” bên dưới. Nào ngờ Nho giáo của những bậc hiền nhân quân tử “văn chất bân bân” lại xuất phát từ cái “trần tục” đến như vậy.
Nhưng cũng chớ có xem thường cái “trần tục”, bởi vì nếu không có nó thì cả loài người văn minh lẫn loài vật ngu dốt cũng chẳng thể nào sinh ra cũng như chẳng thế nào duy trì được nòi giống. Cho nên cái “tự nhiên” được đồng nghĩa với cái “tất nhiên”. Cốt lỗi của Nho giáo là chữ “nhân”, nghĩa là yêu người (ái nhân). Tại sao con người trên trái đất này lại phải xâu xé nhau mà lại không yêu nhau? (tứ hải giai huynh đệ). “Yêu” trở thành điều kiện sống còn và đồng thời cũng là nội dung chủ yếu của Nho giáo. Nhưng không phải “bác ái” chung chung như các tôn giáo khác, tình yêu, tình thương làm sao có thể chia đều được? Nhất thiết phải có mức độ đậm nhạt, khoảng cách xa gần. Quan hệ huyết thông “quy định” mức độ của tình thương. Quan hệ huyết thống gần nhất đương nhiên là quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Tình thương giữa cha mẹ và con cái là tình thương “gốc” của tình thương. Mọi tình thương khác đều từ đó mà ra. Trong tự nhiên, ngay cả loài vật đi nữa hầu như chẳng có mẹ nào mà chẳng biết thương con cũng như “nước mắt chảy xuôi” là lẽ tự nhiên, đâu cần phải nói nhiều. Nhưng loài vật thì chỉ có mẹ biết thương con chứ con thì chẳng biết thương mẹ gì cả. Mẹ cũng chẳng biết thương thì làm sao có thể thương cha được, huống hồ lắm lúc nó cũng chẳng biết cha nó là ai. Con người thì khác. Mẹ thương con, điều đó con vật và con người đều có, nhưng con thương mẹ thì chỉ con người mới có. Đến chế độ phụ hệ thì con không chỉ thương mẹ mà còn “phải” thương cha. Lễ giáo quy định “hiếu” là theo chiều từ dưới lên trên chứ không phải từ trên xuống, quy định tình thương và nghĩa vụ của con đối với cha mẹ chứ không phải của cha mẹ đối với con. Điều đó khác với loài vật, cho nên cái gọi là “người” cũng chính là ở đây. Con người vốn là tự nhiên cho nên phải theo tự nhiên, đồng thời phải “tách” khỏi tự nhiên, để tự hoàn thiện chính mình. Đó là cơ sở triết lý của chữ “hiếu”, phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo nói riêng, của cả học thuyết Nho giáo nói chung.
Xu hướng “dựa” theo tự nhiên và “tách” khỏi tự nhiên là hai xu hướng đối lập, thống nhất của chữ “hiếu”. Xã hội càng văn minh, xu hướng “tách” càng nhiều. Chữ “trung” của chính trị là kết quả tất yếu của xu hướng đó. Nhưng ban đầu cho dù có “tách” chăng nữa thì tiền đề tồn tại của chữ “trung” vẫn là chữ “hiếu”. Không có cha mẹ nào trên đời này lại không muốn con có hiếu với mình cả. Chấp nhận “hiếu” thì phải chấp nhận “trung”, đó là lôgich tất yếu. Cho nên chưa bao giờ người con có “hiếu” mà lại là tôi bất “trung” được (1). “Trung” với “hiếu” trở thành một cặp song sinh đạo đức – chính trị. “Hiếu” là “trung” được thu hẹp, “trung” là “hiếu” mở rộng. Để cho “trung” gần tự nhiên hơn, Mạnh Tử còn gọi đó là “đại biểu” (Thử chi vị đại hiếu, Mạnh Tử, Ly lâu thượng). Nhưng cái gọi là văn minh xã hội làm cho nó ngày càng “tách” xa khỏi chữ “hiếu” tự nhiên, biến chữ “hiếu” thành phương tiện, biến chữ “trung” thành mục đích. Có nghĩa là chữ “trung” chính trị “phi tự nhiên” đã tự nhổ mình ra khỏi gốc rễ của tự nhiên. Quá trình phát triển của Nho giáo trong lịch sử đã diễn ra như vậy đó. Nho giáo từ đời Lê càng ngày càng biến cái “phi tự nhiên” thành cái “phản tự nhiên”. Khóc hay cười là do lễ giáo từ bên trên quy định chứ không phải do cảm xúc tự nhiên từ bên dưới mà có. Nhưng dẫu sao khóc thuê, khóc mướn phù hợp với lễ giáo còn hơn là không. Bởi vì mọi thứ đều từ dưới lên. Nói dựa, nói theo lâu ngày cũng thành thói quen, cần gì phải sáng tạo cho mệt. “Giả dối”, “chủ nghĩa hình thức”, “chủ nghĩa thành tích”… là những đứa con cùng một mẹ. Đừng bao giờ để nó trở thành tiền đề của đạo đức, khoa học cũng như văn học, nghệ thuật. Hình như nguyên nhân của nhàm chán học tập đạo đức, lịch sử, của sáo mòn trong nghệ thuật… cũng có thể ít nhiều tím thấy ở đây. Cho nên Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng… đều hướng về Nho giáo thời Lý Trần chứ không phải thời Lê, càng không phải thời Nguyễn.
Nho giáo thời Tiên Tần ở Trung Quốc khác với Nho giáo ở các thời kỳ sau cũng chính ở điểm này. Học trò của Khổng Tử hỏi thầy sao không chịu ra làm quan, Khổng Tử đáp:
“ Kinh Thưchép: Hiếu! Chỉ cần hiếu để với cha mẹ, anh em, rồi mở rộng ảnh hưởng sang lĩnh vực chính trị, như vậy cũng là làm chính trị rồi, cần gì phải làm quan mới gọi là tham dự chính trị?” (Thư vân: hiếu hồ duy hiếu, hữu ư huynh đệ, thi ư hữu chính. Thị diệc vi chính, hề kỳ vị vi chính? Luận ngữ, Vi chính).
Sách Luận ngữcòn chép chuyện đàm đạo giữa thầy trò Khổng Tử như sau:
Thầy trò Khổng Tử ngồi chơi bên bờ sông. Nhân lúc nhàn rỗi, Khổng Tử bèn bảo học trò hãy bày tỏ chí hướng của mình. Ai nấy đều hăng hái nói lên ý chí chính trị kinh bang tế thế. Duy chỉ có Công Tây Hoa vẫn ngồi gảy đàn chẳng nói gì. Khổng Từ bèn hỏi chí hướng của anh ta. Công Tây Hoa thưa rằng mùa xuân mát mẻ xuống sông tắm, lên bờ cùng với vài tiểu đồng vừa đi vừa hát trở về nhà… Mọi người đều muốn biết chí hướng của Khổng Tử. Khổng Tử đáp chí hướng của ta cũng giống như Công Tây Hoa vậy. (Ngô dử Điểm dã! Luận ngữ, Tiên tiến).
Cũng có thể luận chứng nhiều nữa về điều này, nhưng như vậy cũng tạm đủ để thấy rằng Khổng Tử, người sáng lập ra Nho giáo, xem đạo đức mới là mục đích còn chính trị chỉ là phương tiện.
Tư tưởng của những vĩ nhân thường hay gặp nhau. Khi trả lời phóng viên nước ngoài đề cập đến chí hướng, hình như giữa Hồ Chí Minh và Khổng Tử chẳng khác nhau bao nhiêu:
“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.
Hoàn toàn không có gì gọi là xuất thế, tiêu cực ở đây cả. Chính trị là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nào đó, nó sẽ mất đi cùng với giai cấp và nhà nước. Chỉ có đạo đức – tự nhiên mới vĩnh hằng cùng với nhân loại chừng nào nhân loại còn tồn tại. “Đạo đức – tự nhiên” hay đạo đức khi xã hội loài người không còn giai cấp, không còn nhà nước (đương nhiên là không còn chính trị) thì đó mới là đạo đức chân chính của nhân loại:
“Và cũng như xã hội cho tới nay đã phát triển trong sự đối lập giai cấp, đạo đức luôn luôn là đạo đức giai cấp; cho nên hoặc giả nó bênh vực sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc giả, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh, thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy, chống kẻ thống trị và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức. Do đó, không ai nghi ngờ được rằng, nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại. Nhưng chúng ta vẫn chưa vượt qua khuôn khổ cái đạo đức giai cấp. Một nền đạo đức thực sự có tính nhân đạo, đặt lên trên sự đối lập giai cấp và lên trên mọi hồi ức về sự đối lập ấy, chỉ có thể có được khi nào xã hội đã tới một trình độ mà người ta không những đã thắng được mà lại còn quên được trong thực tiễn của đời sống, sự đối lập giai cấp” (2).
Truyền thống – hiện đại, phương Đông – phương Tây thống nhất trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Paul Mus nhận xét:
“Cụ Hồ đúng là một kiểu người Việt Nam gắn bó với quê hương, quan tâm đến mùa màng và hết lòng vì tập thể… Cụ Hồ nổi lên như là người Á châu nhất của Á châu, nhưng lại là người đã dễ dàng tiếp xúc nhất với tinh thần của Âu châu” (3).
Âu châu hay phương Tây nói chung, đâu phải không xem trọng gia đình. Người ta cho rằng gia đình không những quan trọng trong quá khứ, hiện tại và cả trong tương lai. Trong tương lai gia đình sẽ có ba chức năng, đó là “sản xuất” ra con người, giáo dục con người và là cơ sở sản xuất của xã hội. Con người là con người xã hội, để thành người, con người phải trải qua ba lần xã hội hóa: gia đình, nhà trường và xã hội. Nên nhớ, gia đình là khâu xã hội hóa đầu tiên quan trọng nhất. Nhưng quan niệm về “xã hội hóa” của phương Đông và phương Tây không giống nhau. “Gia đình” theo cách nhìn của phương Tây là một đơn vị sản xuất, là gia đình “kinh tế”. Cho nên tương ứng với nó là chính trị - pháp luật, chứ không phải chính trị - đạo đức. Ở phương Đông, đạo đức từ gia đình ra ngoài xã hội, ở phương Tây, pháp luật từ xã hội đi vào gia đình. Mà pháp luật là gì? Từ lâu Platon đã cho rằng “pháp luật là đạo đức không có tình cảnh”. Đạo đức phương Đông “định hướng” chữ “hiếu” theo tình cảm là chính chứ không phải là kinh tế. Học trò của Khổng Tử hỏi thầy về chữ “hiếu”. Thầy trả lời rằng cái khó nhất của chữ “hiếu” không phải chỉ là phụng dưỡng cha mẹ về vật chất mà là tình cảm. Nếu không thì có khác gì nuôi con chó, con ngựa? (Chí ư khuyển, mã giai năng hữu dưỡng. Bất kính hà dĩ biệt hồ? Luận ngữ, Vi chính). Người Việt Nam nặng nề tình nghĩa, mất gì thì mất chứ tình nghĩa thì còn mãi. “Nghĩa” ở đây không đồng nhất với cái gọi là “nghĩa vụ”. “Nghĩa vụ” có tính bắt buộc, là phải, cho nên thuộc về phạm vi của luật pháp. “Nghĩa” là nên (Sách Trung dungchép: nghĩa giả, nghi giả), là tự nguyện (Sách Thuyết vănchép: nghi, sở an dã), thuộc phạm vi đạo đức. Cho nên “hiếu” và “nghĩa” gần với đạo đức – tự nhiên hơn. Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến truyền thống “tình – nghĩa” của dân tộc, xem đó như là một đúc của chủ nghĩa “Mác – Lênin cần hướng tới:
“Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được?”.
“Mấy chục năm nay, nhân dân ta thực hành chủ nghĩa Mác – Lênin bằng cách ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa” (4).
“Tình” và “nghĩa” đó trước hết phải được thể hiện ở khâu “xã hội hóa” đầu tiên, tức là gia đình. Chữ “hiếu” sinh ra vốn là vì điều đó. Chữ “hiếu” có cái “lý” của nó bởi vì nó dựa vào gốc rễ tự nhiên, đồng thời nâng con người lên khỏi tự nhiên. Nhưng một khi nó chỉ là công cụ của quyền lực thì lại hạ con người xuống, biến thành “ngu trung”, “ngu hiếu”. Chữ “hiếu” có hai mặt, có lẽ không vì mặt kia của nó mà bỏ mất mặt này. Dẫu sao, chữ “hiếu” còn thì gia đình phương Đông còn, chữ “hiếu” mất thì gia đình phương Đông cũng mất. Từ xưa đến nay chưa bao giờ tế bào hư hỏng lại có thể tạo thành cơ thể khỏe mạnh cả!
________
1. Rất ít những người có hiếu – để mà lại muốn chống đối cấp trên. Không muốn chống đối cấp trên mà lại muốn nổi loạn là điều chưa bao giờ có. Người quân tử giữ lấy cái gốc, gốc vững thì đạo mới vững. Cho nên Hiếu-để chẳng phải là cái gốc của nhân ái hay sao!” (Kỳ vi nhân dã hiếu để, nhi háo phạm thượng giả, tiễn hỹ. Bất háo phạm thượng nhi háo tác loại giả, vị chi hữu dã. Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh. Hiếu để dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư! Luận ngữ, Học nhi). James Legge dịch câu Hiếu để dã giả kỳ vi nhân chi bản dư: “Filialpiety and fraternal submission – are thay not the root of all benevolent actions?”.
2. PH. Ăng ghen, Chống Duy – Rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 156.
3. Trích theo Tạp chí Văn hiến Việt Nam , số 5(49)/2005.
4. Hồ Chí Minh, Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 169.
Nguồn: Xưa & Nay, số 301 – 302, 2/2008, tr 10








