Đầu tư mạo hiểm
Kết thúc giai đoạn nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được một số luận điểm và một số khuyến nghị về chính sách và luật lệ, được trình bày trong tập báo cáo kết thúc dự án “Finance institutions for S &T in Market Reform” do International Development Research Center (IDRC) tài trợ từ năm 1992.
Đây là một thiết chế tài chính đặc trưng cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Nó đã không tồn tại trong hệ thống kinh tế chỉ huy và ngay cả trong một nền kinh tế thị trường chưa phát triển hoàn hảo. Bởi vì nó liên quan đến một phạm trù rất căn bản của kinh tế thị trường, đó là thị trường chứng khoán. Bài viết phân tích bản chất của VI với các đặc điểm, giai đoạn của nó, từ đó chỉ ra những cơ hội để hình thành VCF ở Việt Nam hiện nay.
Vì sao cần “VI”?
VI là thực hiện đầu tư vào hoạt động đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp hoặc đầu tư để lập ra một doanh nghiệp mới, mà đặc trưng cơ bản của nó là còn thiếu độ tin cậy về kết quả kinh doanh, chưa tỏ rõ khả năng sinh lợi của mình, những nơi mà các thể chế tài chính truyền thống (tín dụng, ngân hàng...) không để ý đến. Thay vì cho vay, họ đầu tư vốn để một công ty có thể phát triển, đồng thời có thể nhận lấy một tỷ lệ cổ phần không có lãi cố định hoặc quyền sở hữu cổ phần trong công ty mà họ đầu tư. Xét về bản chất, hệ thống tín dụng thông thường không thể thúc đẩy đổi mới công nghệ khi mà khả năng thành công về kỹ thuật và thương mại còn chưa rõ ràng.
Trên thực tế, hệ thống tín dụng đã không đóng được vai trò gì lớn trong công cuộc đổi mới công nghệ của sản xuất. Lý do hoàn toàn đơn giản: Do bản chất kinh doanh của hoạt động ngân hàng, không thể thực hiện chế độ tín dụng dài hạn, lãi suất thấp, có rủi ro về khả năng thương mại, phù hợp với quy luật đổi mới công nghệ, trừ trường hợp Nhà nước có một chính sách hết sức ưu đãi cho việc này.
Một công nghệ muốn đi vào sản xuất phải qua giai đoạn thử nghiệm, giai đoạn làm quen với thị trường. Thử nghiệm hoàn toàn có thể bị thất bại. Chế độ tín dụng ngắn hạn, lãi suất cao không thể thoả mãn những điều kiện của đổi mới công nghệ, nếu không muốn nói là nó bóp chết mọi ý đồ đổi mới công nghệ từ trong trứng.
Chúng ta không thể và cũng không nên đòi hỏi ngành ngân hàng phải thực hiện chế độ tín dụng dài hạn, lãi suất thấp cho hoạt động đổi mới công nghệ. Đòi hỏi như thế là không hiểu biết về bản chất của hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Đương nhiên, các ngân hàng thương mại quốc doanh, với những khoản vốn lớn nhận được từ các nguồn như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), các khoản tài trợ lớn của Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh châu âu (EU), có thể là những nơi có chế độ tín dụng dài hạn, lãi suất thấp, nhưng đổi mới công nghệ vốn chứa đựng những rủi ro kỹ thuật và thương mại, lại không thuộc đối tượng của những nguồn vốn này.
Như vậy, muốn có một chế độ tạo vốn nào đó cho đổi mới công nghệ, phải đi theo một hướng tiếp cận khác phù hợp với kinh tế thị trường. VI giống như một cuộc đánh bạc của những nhà giàu chịu chơi, được ăn, lỗ chịu, một luật chơi chỉ có trong điều kiện phát triển thị trường chứng khoán, nó là lời giải cho những thách thức của trò chơi công nghệ trong nền kinh tế thị trường. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu thị trường công nghệ đã có câu nói bất hủ: “Công nghệ là trò chơi của người giàu, ước mơ của người nghèo và chìa khoá của người thông minh”. Chúng ta là người nghèo đi vào kinh tế thị trường. Nếu muốn chứng tỏ là người thông minh, chúng ta cần biết khơi dậy trò chơi mạo hiểm này của người giàu để tìm chìa khoá cho sự phát triển của mình. Một trong những trò chơi ấy, chính là sử dụng VC cho mục tiêu VI, và sự hình thành những VCF.
Từ đâu “VI”?
Cổ phiếu xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, ban đầu có lẽ không phải dành cho các nhà VI. Nhưng bản chất “đánh bạc” của cổ phiếu đã là một gợi ý rất quan trọng cho những người tham gia thị trường chứng khoán trong việc ném loại “tiền đánh bạc” này vào lĩnh vực đầu tư đổi mới công nghệ. “Đã đánh bạc, thì đánh bạc một thể” Đó có lẽ là ý tưởng rất quan trọng, từ đó hình thành loại VC, VI, và đi xa hơn là VCF.
Các nhà tư bản khi ném tiền mua cổ phiếu đã phải tính toán đến sự lựa chọn giữa mạo hiểm và may mắn. Đầu tư đổi mới công nghệ được hiểu là mạo hiểm (thậm chí rất mạo hiểm), nhưng nếu thắng, thì sẽ giành được thế mạnh áp đảo trong cạnh tranh, sẽ thu về những khoản lợi nhuận siêu ngạch khổng lồ.
Thực tế, quá trình đổi mới công nghệ của các hãng nổi tiếng trên thế giới, khi còn ở giai đoạn mới thành lập, chưa có nhiều vốn tự có, đã cho thấy, họ luôn có những vướng mắc liên quan đến việc tìm nguồn vốn, đến việc tìm các biện pháp khai thác những thành tựu của R &D với một lượng vốn đủ lớn để hiện thực hoá các kết quả của R &D.
Những người ném tiền cho VC đã ý thức rất rõ ràng tính chất mạo hiểm của nó. Về bản chất, họ mang ý thức của kẻ đánh bạc, nhưng khác kẻ đánh bạc ở chỗ, họ đã phải xem xét khả năng thành công của những công nghệ mới sẽ được áp dụng. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa VI với đánh bạc, và đây cũng chính là lý do các VCF chứng minh được lẽ tồn tại của mình trong kinh tế thị trường.
Đặc điểm của VI
VI không tồn tại như một vật tự nó, mà phải có cơ sở kinh tế. Lẽ sống của VC là ở chỗ, nó đòi hỏi người ta bỏ vốn một cách dài hạn, nếu sinh lời thì cùng nhau ăn chia, nếu lỗ thì cùng nhau chịu, và tính mạo hiểm càng cao, thì khả năng sinh lợi càng lớn. Luật chơi này sẽ không thể tồn tại trong một hệ thống kinh tế “chộp giật”, không thể tồn tại với một hệ thống kiểm toán đang còn non yếu, và nhất là còn thiếu một hệ thống pháp luật có hiệu lực của nền kinh tế thị trường.
Việc sử dụng đầu tư cổ phần không hưởng lãi cố định thay cho vay nợ giúp xoá bỏ tình trạng phải hoàn trả tiền vay theo kế hoạch định kỳ. Nó cho phép các công ty mới thành lập có thể đầu tư số tiền thu được để triển khai một ý tưởng mới về sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên công nghệ mới, đồng thời tạo ra một cơ sở vật chất mà công ty có thể sử dụng để thu hút thêm vốn từ bên ngoài, và nâng cao sự tín nhiệm của các tổ chức tài chính, các nhà cung ứng.
Việc hỗ trợ tài chính thông qua hình thức cổ phần không hưởng lãi cố định tạo điều kiện cho các nhà VI chịu được những rủi ro từ các khoản đầu tư lớn vì một khoản đầu tư mang lại thành công và lợi nhuận lớn có thể thừa sức bù đắp lại một loạt những khoản đầu tư hoà hoặc lỗ vốn.
Các VCF chuyên nghiệp cung cấp nguồn tài chính hỗ trợ cho việc khởi xướng, gây dựng và mở rộng doanh nghiệp, cũng như nguồn tài chính cho quản lý /mua lại phần đầu tư lớn. Bên cạnh những đặc tính nổi bật này, một số quỹ có thể đi chuyên sâu vào các lĩnh vực công nghệ, như công nghệ thông tin hay sinh học, trong khi các quỹ khác lại đầu tư vào nhiều lĩnh vực công nghệ và phi công nghệ khác.
Các công ty VI thường được thành lập dưới dạng các hợp doanh đầu tư vốn của các thành viên hữu hạn. Những thành viên này thường là các quỹ lương hưu tập thể, chính phủ, tư nhân, các nhà đầu tư nước ngoài, tập đoàn lớn, công ty bảo hiểm, các quỹ tự nguyện và thậm chí là các VCF khác. Khi các công ty VI thu hút được tiền từ các nguồn đó, họ tập hợp lại thành một qũy.
Vai trò của VCF rất quan trọng trong giai đoạn bắt đầu sự đổi mới hay đột phá về công nghệ. Giai đoạn này được đặc trưng bởi việc thử nghiệm công nghệ mới, sự không chắc chắn về tiến triển trong tương lai, các thị trường mở rộng, những trở ngại thấp và phi tiết kiệm quy mô.
Khi kế hoạch kinh doanh được chấp nhận, các doanh nghiệp mới sẽ được đầu tư vốn. Để đáp lại, các nhà VI nhận được quyền sở hữu một tỷ lệ cổ phần đáng kể trong công ty mới, đồng thời được tham gia vào ban lãnh đạo công ty.
Theo thời gian, tầm quan trọng của các kỹ năng kinh doanh và công nghệ giảm xuống, trong khi năng lực marketing và quản lý lại trở nên quan trọng hơn theo thời gian và cơ cấu của công ty mới thành lập trở nên hình thức hơn. Giai đoạn này, vai trò của VI chuyển từ sự chủ động can thiệp sang hình thức trợ giúp hoặc tư vấn.
Vai trò của các nhà VI trong quá trình đổi mới đạt đến đỉnh cao khi họ “rời khỏi” các vụ đầu tư. Điều này thường được hoàn thành bằng việc nhà đầu tư bán cổ phần ra ngoài hoặc thông qua hình thức sáp nhập với công ty khác, nhờ đó các khoản đầu tư được chuyển thành vốn rút ra bằng tiền mặt được.
Các giai đoạn của VI
Sự phát triển của một doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới và sự tham gia của VI có thể qua bốn giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1:Lúc này, các dự án kinh doanh mạo hiểm vẫn chưa có doanh thu từ sản phẩm và chưa sử dụng hoặc mới sử dụng rất ít vốn, điều đó thường chứng tỏ một đội ngũ quản lý chưa hoàn thiện nhưng có ý tưởng, kế hoạch và có thể có một vài phát triển sản phẩm ban đầu.
Giai đoạn 2:Các dự án kinh doanh mạo hiểm vẫn chưa mang lại doanh thu từ sản phẩm, nhưng đã dùng một số vốn đầu tư, cho thấy sự phát triển sản phẩm đang được triển khai.
Giai đoạn 3:Các dự án kinh doanh mạo hiểm đã tạo ra doanh thu từ sản phẩm, nhưng vẫn trong tình trạng lỗ.
Giai đoạn 4:Các công ty có doanh thu lớn từ sản phẩm và hoạt động có lợi nhuận. Lộ trình của một doanh nghiệp từ lúc được đầu tư theo phương thức VI cho đến lúc ra thị trường chứng khoán có thể bao gồm các bước sau (số liệu là giả định):
- Thiết lập: Một hoặc một số nhà doanh nghiệp, kỹ sư hoặc nhà nghiên cứu có ý tưởng công nghệ/sản phẩm mới bỏ 15.000 USD vốn thành lập công ty.
- Khởi động góp VC lần thứ nhất: Để có thể phát triển sản phẩm mẫu /nguyên mẫu công nghệ, các sáng lập viên bán cổ phần (25%) cho các nhà VI để nhận về 100.000 USD, đưa giá trị công ty lên 400.000 USD.
- Góp VC lần thứ hai: Để có thêm vốn, công ty phải hoàn chỉnh dự án và đưa ra chào bán. Dưới hình thức vốn VI, 2 triệu USD được góp vào để đổi lấy 50% cổ phần. Như thế giá trị công ty tăng lên 4 triệu USD.
- Phát triển: Huy động vốn của toàn thể nhân viên của công ty. Công ty trao cho họ 15% cổ phần để lấy thêm vốn cho đầu tư mở rộng và cạnh tranh. Trong vòng 4 năm VI đem lại 13 triệu USD, kiểm soát 69% cổ phần. Tài sản của công ty bây giờ trị giá 32, 5 triệu USD.
- Gia nhập thị trường chứng khoán: Qua 6 năm, sản phẩm đã phát triển tốt. Để tài trợ cho sự tăng trưởng, công ty phải bán 19% tài sản ở thị trường chứng khoán, thu về 21 triệu USD. Giá trị tích luỹ của công ty đạt 112 triệu USD. Các sáng lập viên chỉ còn sở hữu 9% cổ phần, nhưng giá trị cổ phần của họ đã lên tới hơn 10 triệu USD.
Cơ hội hình thành các VCF ở Việt Nam
Cho đến nay, Việt Nam mới có 3 loại hình tài chính chủ yếu cho phát triển sản phẩm dựa trên các công nghệ mới.
Ngân sách nhà nước: Trước đây, ngân sách nhà nước chỉ cấp cho hoạt động R &D dưới dạng kinh phí sự nghiệp khoa học và chủ yếu là cho các viện nghiên cứu, trường đại học. Gần đây, một phần ngân sách đã được cấp cho các dự án sản xuất thử nghiệm. Đối tượng và hình thức cấp cũng được mở rộng, ví dụ cho các dự án có sự tham gia của các doanh nghiệp, hoặc các dự án ghi rõ địa chỉ áp dụng. Tuy nhiên, quy mô của nguồn tài chính này còn rất nhỏ bé, và cơ chế quản lý cứng nhắc đã gây khó khăn cho các hoạt động R &D và ứng dụng mang tính rủi ro cao.
Tín dụng ngân hàng: Ngân hàng đã có quy chế tín dụng cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ từ thập niên 80 của thế kỷ trước (Chỉ thị 16 và sau đó là Quyết định 270), nhưng không được thực hiện trên thực tế do cơ chế thị trường lúc đó chưa hoạt động, không tạo ra nhu cầu thực sự phải vay vốn. Đến nay, có thể nói cơ chế tín dụng không hoàn toàn thích hợp cho một số hoạt động R &D và đổi mới mang tính rủi ro cao, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập, chưa có tài sản thế chấp, chưa có thị trường ổn định...
Đầu tư từ vốn tự có của các doanh nghiệp: Trong bối cảnh bước đầu công nghiệp hoá và mới chuyển sang kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phần lớn còn yếu và khả năng đầu tư từ vốn tự có là rất nhỏ bé.
Như vậy, có thể thấy, các thể chế tài chính và nguồn đầu tư hiện tại chưa đủ đa dạng để tài trợ cho các hoạt động R &D, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, cần phải có những phương thức đầu tư tài chính mới như VI. VI trở nên quan trọng hơn khi một quốc gia muốn phát triển dựa trên những thành tựu khoa học và công nghệ mới. Trong khi đó, thị trường vốn không chính thức của Việt Nam có tiềm năng rất lớn chưa được khai thác. Một số lượng khổng lồ vốn nhàn rỗi trong nhân dân chưa được đưa vào sử dụng. Gần đây, một loạt các thể chế tài chính mới đã được thiết lập: Các ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính, quỹ bảo hiểm… với cả vốn trong và ngoài nước. Bản thân các thể chế tài chính đó cũng có nhu cầu tự nhiên là phải đầu tư để lấy lãi và tất nhiên, một trong những kênh đầu tư của họ có thể là các VCF. Một số yếu tố khác làm cho việc VI có thể khả thi ở Việt Nam là:
- Việt Nam có một đội ngũ cán bộ nghiên cứu và mạng lưới các cơ quan R &D lớn. Đội ngũ và mạng lưới này đã tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu được đánh giá là “có giá trị và khả năng ứng dụng lớn”, nhưng cho đến nay vẫn ít được áp dụng. VI có thể thổi một luồng sinh khí vào lực lượng này.
- Hệ thống luật pháp của Việt Nam đang được hoàn thiện dần, cho phép các tổ chức VI có thể hoạt động được. Ví dụ, Luật Doanh nghiệp hiện hành cho phép việc góp và rút vốn thuận lợi, dễ dàng; Luật Chứng khoán cho phép các loại hình quỹ đầu tư ra đời.
- Thị trường chứng khoán đã hình thành và đi vào hoạt động. Trên thực tế, đã có một số VCF được thành lập ở nước ngoài nhưng nhằm vào thị trường Việt Nam, điển hình là Quỹ IDG Venture. Quỹ này đã huy động 100 triệu USD cho mục đích đầu tư ở Việt Nam, và đã đầu tư vào một số công ty non trẻ, nhưng có tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Một số quỹ đầu tư khác đã thành công trong các lĩnh vực đầu tư an toàn như bất động sản, doanh nghiệp cổ phần hóa, ví dụ, Vinacapital đang xúc tiến một VCF vào lĩnh vực công nghệ cao.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, VI không phải là hình thức đầu tư đơn giản và yêu cầu phải hội tụ nhiều điều kiện mà Việt Nam còn phải cố gắng nhiều mới có được, ví dụ thái độ khoan dung với những công ty thất bại, óc mạo hiểm kinh doanh, tinh thần sáng tạo, vượt ra khỏi những thói quen và cách làm đã định hình…
Nguồn: T/c Hoạt động khoa học, 1/2008, tr 19








