Dấu ấn một nền văn hoá tiền sử trên Vịnh Hạ Long
Từ những phát hiện khảo cổ học đầu tiên của các nhà khảo cổ học người Pháp và Thuỵ Điển, các nhà khảo cổ học Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và phát hiện ra hàng chục di tích khảo cổ tiền sử thuộc khu vực Hạ Long và xác lập nên một nền văn hoá biển - còn gọi là văn hoá “cồn sò” vô cùng đặc sắc - văn hoá Hạ Long. Cho đến nay đã phát hiện đượ 34 di tích khảo cổ thuộc nền văn hoá Hạ Long, trong đó, riêng khu vực Hạ Long có khoảng 25 di tích khảo cổ được phát hiện và nghiên cứu với các di tích nổi tiếng như: Soi Nhụ, Ngọc Vừng, Đồng Mang, Xích Thổ, Ba Vũng, Đầu Dằm... trong khung niên đại từ 5.000 đến 3.000 năm cách ngày nay. Tuy nhiên, trước văn hoá Hạ Long, khu vực vùng biển Đông bắc đã có những tập đoàn cư dân cổ sinh sống, dấu tích của các nhóm cư dân này được tìm thấy trong những hang động như: Hà Lùng, Soi Nhụ, Đồng Đăng, khi ấy những cư dân tiền sử này còn sống trong môi trường lục địa, bằng chứng được tìm thấy trong các di tích này là chỉ tìm thấy những mảnh xương thú và vỏ ốc nước ngọt, không có xương cá biển - Đây là những cư dân Hoà Bình - Bắc Sơn đầu tiên tiếp cận với biển nhưng chưa khai thác biển. Sau 6.500 năm, khi biển tiến tràn ngập trên quy mô hành tình, vùng biển Đông Bắc xuất hiện những làng chài đầu tiên với ý nghĩa vừa là nơi định cư đồng thời khai thác biển. Dấu vết còn lại tại di chỉ Cái Bèo là xương các loài cá biển như cá Sọ cá úc, cá Đại Hồng Ngư... nhiều lên tới hàng tạ, điều đó chứng tỏ những ngư dân Cái Bèo là những cư dân biển thực sự.
Sự phát triển giữa các giai đoạn được thể hiện qua sự thay đổi địa bàn cư trú, biến chuyển về kỹ thuật chế tác công cụ đá và đồ gốm và thay đổi phương thức sống. Kỹ thuật chế tác công cụ bằng đá của cư dân văn hoá Hạ Long đạt tới trình độ đỉnh cao với các kỹ thuật mới như: cưa, mài, chuốt bóng để tạo ra những tổ hợp công cụ đặc sắc như: rìu và bôn có vai có nấc, lưỡi xoè lệch, xoè cân. Đồ gốm xốp với văn thừng. văn chải hoa văn sóng nước là sản phẩm “đặc hữu” của văn hoá Hạ Long không thể trộn lẫn với các nền văn hoá khác.
Với một môi trường biển và vị trí thuận lợi, những cư dân văn hoá Hạ Long có cơ hội giao lưu với nhiều nền văn hoá khác cùng thời. Dấu ấn văn hoá Hạ long được tìm thấy trong văn hoá Hà Giang, gồm các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Trong văn hoá Mai Pha (Lạng Sơn) nhưng rõ nhất là ở đồng bằng và vùng Trung du Bắc bộ mà trước hết là ở văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu và văn hoá Hoa Lộc. Người ta còn tìm thấy yếu tố văn hoá Hạ Long ở tận những nơi xa xôi như vùng ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồng Kông và cả Thái Lan. Ngược lại, những nền văn hoá này cũng để lại những dấu ấn không nhỏ trong nền văn hoá Hạ Long. Như vậy, chủ nhân văn hoá Hạ Long không chỉ có những mối quan hệ với những nền văn hoá cùng thời trong khu vực mà còn có những mối quan hệ văn hoá vượt đại dương tới cả những vùng xa xôi của Đông Á và Đông Nam Á. Có được những mối quan hệ với các nền văn hoá khác như vậy chính là do những chủ nhân của văn hoá Hạ Long đã biết phát huy thế mạnh của cư dân vùng biển năng động, phát huy nội lực đồng thời biết tranh thủ những thành tựu nổi bật của các nền văn hoá cùng thời để làm phong phú giá trị văn hoá của mình.
Các di tích và di vật khảo cổ không chỉ là nguồn sử liệu quan trọng cho việc biên soạn, nghiên cứu về lịch sử, quá khứ của dân tộc mà còn là tài sản chung của nhân loại cần được bảo tồn và phát huy một cách hiệu quả. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà các di tích khảo cổ văn hoá Hạ Long chưa được bảo tồn và phát huy có hiệu quả. Đa số các di tích khảo cổ văn hoá Hạ Long đều nằm ở gần cửa sông, bãi cát ven chân đảo đá và các “cái đượng” trên bãi triều, vịnh biển nên bị mưa, sóng phá huỷ hoặc rửa trôi như: di chỏ gò Bảo Quế, Ngoài Hàu, Hòn Ngò, Cái Bèo... Một nguyên nhân khác là hoạt động của con người. Khu di tích khảo cổ Ngọc Vừng - địa điểm đầu tiên mà Anderson phát hiện ra từ năm 1937 hiện không còn dấu vết. Di tích khảo cổ Tuần Châu, Cái Dăm đã bị cải tạo làm khu du lịch. Tại Móng Cái, nơi tập trung nhiều di tích khảo cổ giai đoạn sớm của văn hoá Hạ Long, trong đó có các di tích của bốn thôn Bắc, Trung, Nam, Đông, đây là những di tích nằm trong khu vực dân cư sinh sống và canh tác nông nghiệp, cả bốn di tích này hầu như không còn do người dân canh tác nông nghiệp, đào ao hoặc xây dựng nhà cửa. Đến nay trong số các di tích khảo cổ tiền sử được phát hiện, chỉ có duy nhất di tích khảo cổ Hòn hai - Cô Tiên được xếp hạng là di tích cấp quốc gia, được bảo vệ.
Trước hết cần khẳng định rằng việc nghiên cứu và quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, di vật khảo cổ là một việc làm hết sức cần thiết. Thông qua việc nghiên cứu giá trị các di tích khảo cổ, giáo dục, tuyên truyền phổ biến các giá trị đó tới đông đảo quần chúng nhân dân, nâng cao sự hiểu biết của người dân, phục vụ nhu cầu tham quan du lịch, chỉ khi ấy những di tích khảo cổ mới thực sự phát huy được tác dụng. Đối với các di tích khảo cổ tiền sử Hạ Long cần tiến hành nghiên cứu, khảo sát toàn bộ và lập hồ sơ khoa học, xác định rõ giá trị cho từng di tích từ đó xây dựng phương án bảo tồn các di tích chưa khai quật và ngăn chặn tình trạng xuống cấp của các di tích. Bên cạnh việc đầu tư bảo vệ chống xuống cấp của các di tích khảo cổ trong khu vực theo hai hướng: Khai quật những di tích khảo cổ có nguy cơ bị phá huỷ hoàn toàn do việc xây dựng, canh tác hoặc phát triển kinh tế. Với những di tích có giá trị mà không ảnh hưởng bởi các hoạt động của con người và tự nhiên, nên khoanh vùng bảo vệ và đề nghị công nhận di tích ở cấp tỉnh hoặc quốc gia để có căn cứ và cơ sở pháp lý bảo vệ lâu dài và phát huy có hiệu quả.
Vịnh Hạ Long đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế, việc làm rõ các giá trị của các di tích khảo cổ văn hoá Hạ Long là một trong những việc hết sức cần thiết góp phần nâng cao giá trị di sản. Tuy nhiên, việc nghiên cứu những giá trị văn hoá Hạ Long mới chỉ được bắt đầu, điều đó đặt ra cho các nhà nghiên cứu và quản lý nhiệm vụ hêt sức nặng nề là cần làm sáng tỏ các giá trị văn hoá Hạ Long trong bối cảnh rộng lớn hơn, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị đó hiệu quả nhất.
Nguồn: Biển Việt Nam, số 7 + 8 - 2007, tr 47








