Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/08/2008 20:56 (GMT+7)

Đánh cuộc với rủi ro

Mục đích của việc nghiên cứu lai tạo giống là cho ra những giống mới, có được những ưu điểm của cả dòng bố và dòng mẹ. Nhưng để lai tạo cho cây lúa là rất khó, vì bộ phận sinh sản đực và cái của cây lúa được sắp xếp trong một cấu trúc hạn chế tối đa sự tạp giao. Bao phấn (bào tử đực) và noãn (bào tử cái) của lúa nằm rất gần nhau cùng trong một hoa lúa. Trong quá trình sinh sản, phấn được tung ra từ bao phấn và phủ khắp noãn, vỏ trấu của hoa sẽ cản trở sự xâm nhập của các hạt phấn từ bên ngoài. Vì vậy, muốn tạo ra một giống lúa mới theo phương pháp lai tạo, nhà khoa học phải tìm được một dòng mẹ bất dục đực, tức là hoa lúa có bao phấn nhưng không có khả năng thụ cho noãn. Đó cũng chính là khó khăn đầu tiên mà TS Nguyễn Thị Trâm phải giải quyết trong quá trình nghiên cứu của mình.

Trong thiên nhiên có nhiều giống lúa bất dục theo những kiểu khác nhau: có loại bất dục theo tế bào chất, có loại bất dục theo nhân tế bào. Trong loại bất dục theo nhân tế bào lại có loại bất dục do gene trội nhưng cũng có loại bất dục do gene lặn quy định và kiểm soát. Thật là một ma trận với vô vàn các khả năng, nhưng không phải khả năng nào cũng cho ra loại giống đảm bảo các yêu cầu phục vụ tốt cho sản xuất như tính bất dục ổn định, khả năng nhận phấn tốt, thuận lợi cho việc sản xuất hạt lai .v.v.

Suốt một thời gian dài kể từ năm 1994, dựa vào những kiến thức đã tích lũy qua hàng chục năm nghiên cứu cây lúa, cùng sự tiếp thu những tiến bộ khoa học của những nước đi trước, TS Trâm đã tiến hành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau để thử nghiệm và tìm kiếm trong hàng trăm giống bản địa và ngoại nhập. Cuối cùng bà cũng đã thành công khi tìm ra loại giống thích hợp có loại gene lặn, bất dục đực, di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ - TGMS (thermosensitive genetnic male sterility). Đây là loại giống bất dục theo nhiệt độ, cụ thể nhiệt độ dưới 24 oC thì cây lúa hữu dục, nhiệt độ trên 24 oC thì cây lúa bất dục, một đặc điểm rất phù hợp với các thời vụ sản xuất của nông dân ĐBSH.

Để có được kết quả như vậy, thật đúng như lời TS Trâm tâm sự, “Từ khi ra trường tôi chỉ nghiên cứu tạo giống lúa để có được sự tích lũy cần thiết. Với tôi, đó là điều quan trọng nhất để dẫn tới thành công. Đời người tuy dài, nhưng so với tiến hóa của một loại cây lại vô cùng ngắn, nếu nay làm cây này, mai làm cây khác thì khó có thể cho ra một cái gì cụ thể.”

Cho ra đời một giống lúa mới đã rất khó khăn đòi hỏi nhiều công sức lao động nhưng để giống lúa được những người nông dân đón nhận đưa vào sản xuất trên đồng ruộng, người làm khoa học không thể chỉ đem sự miệt mài nghiên cứu của mình ra để thuyết phục.

Sau khi tạo giống, TS Trâm đã gửi giống mới tới Trung tâm Khảo nghiệm Quốc gia. Từ đó giống lúa mới được đưa đến các miền sinh thái khác nhau và được trồng trên các mảnh ruộng thử nghiệm. Kết quả cho thấy là giống lúa thích ứng được với sinh thái của nhiều vùng sản xuất từ miền núi, trung du đến đồng bằng. Tuy vậy, TS Trâm cho biết, “nghiên cứu giống, chọn giống là khoa học thực nghiệm, nên không thể đem kết quả của một hai vụ sản xuất trên những mảnh ruộng chỉ có vài sào để thuyết phục nông dân”.Vì vậy, bà và các cộng sự đã quyết định phải đi “trình diễn giống”ở nhiều địa phương. Nhờ sự cam kết chắc chắn với người nông dân năng suất đạt được phải hơn hoặc bằng với loại giống vẫn đang sử dụng, nếu kém sẽ bù vào phần thiếu hụt đã giúp bà có được “đất diễn” rộng tới hàng chục hecta.

Vào năm 2005, giống lai của Trung Quốc đắt vọt lên, đây cũng là một cơ hội tốt để giống lúa của bà đến với người nông dân nhiều hơn. Giống TH3-3 tuy về năng suất và chất lượng chưa hẳn là vượt trội so với các giống của Trung Quốc, nhưng giá cả thì hợp với túi tiền người sản xuất. Các công ty giống nắm bắt được điều này liền nhanh chóng chào hàng giống TH3-3 tới nông dân. Kết quả là bên cạnh số lượng 6 tấn giống do TS Trâm trực tiếp cung cấp, đã có thêm 21 tấn giống TH3-3 nữa được gieo trồng vào vụ mùa năm đó. Tưởng chừng đó là một thuận lợi to lớn, nhưng không, vào lúc đó giống TH3-3 về mặt vẫn chưa được công nhận là giống quốc gia. Vì vậy, Sở Nông nghiệp địa phương đã đánh công văn yêu cầu bà phải bảo lãnh kết quả sản xuất cho cả các công ty giống ngang bằng với giống Bắc Ưu 64. Tuy rất tin tưởng vào “đứa con để đời” của mình, nhưng bà không khỏi lo lắng vì thấy lúa lai Trung Quốc vẫn được bà con nông dân sử dụng có năng suất cao, sinh trưởng phát triển tốt, và nhất là những diễn biến của thời tiết có thể mang lại sự rủi ro. “Thật đúng là như đánh bạc”,TS Trâm nhớ lại cảm xúc lúc đó.

Sự lo lắng của TS Trâm không phải là thừa. Năm đó có hai cơn bão liên tiếp đổ vào Nam Định, nơi giống lúa mới được gieo trồng trên diện tích hơn 1000 hécta. Cơn bão thứ nhất đổ bộ vào ngày 17-18/9, trước đó mấy ngày bà đã gửi giấy mời Cục Nông nghiệp, Trung tâm khảo nghiệm định ngày 22/9 tham dự Hội nghị đầu bờ để công nhận giống quốc gia. Cả một cánh đồng rộng hơn 140 hécta ở xã Nghĩa Hưng, nơi sẽ diễn ra hội nghị, lúa đã uốn câu phải vờn vũ với gió bão trong hai ngày. Thật may, do lúa còn xanh, lại là giống thân lùn nên thiệt hại không đáng kể, những mảng ruộng xanh rì vẫn đủ sức nô đùa trình diễn trước mắt người khảo nghiệm và tham quan. Nhưng những ngày sau đó (27-28/9), cơn bão thứ hai tràn về đúng vào lúc lúa đã chín. Sau cơn bão này, lúa rụng gần hết, thiệt hại là đáng kể, nhưng may mắn là kết quả sản xuất đạt 4,2 tấn, hơn gấp đôi sản lượng của giống Bắc Ưu 64 trên cùng diện tích gieo trồng.

Qua câu chuyện trên ta phần nào hiểu được câu nói đùa mà cũng là thật của bà “chuyển nhượng bản quyền giống lúa được 10 tỷ là ăn may”. Quả thực gắn với sản xuất nông nghiệp, không chỉ người nông dân mà ngay cả người làm khoa học cũng chịu sự may rủi của thiên nhiên, thời tiết.

Trong quá trình tạo giống, các nhà chọn giống dùng một giống lúa đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất làm chuẩn và đặt mục tiêu tạo ra giống mới ra đời hơn giống trước 10%, hoặc về năng suất, hoặc về chất lượng, chống sâu bệnh. Ngày nay, các khoa học có nhiều phương pháp tiến bộ như dùng CNSH, lấy vật liệu gene tạo ra các giống năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng lấn át rất nhanh so với các giống cũ. Thế nhưng, một giống lúa tồn tại trong sản xuất dài hay ngắn cũng có giai đoạn của nó, thông thường là 10 - 12 năm. Điều đó phụ thuộc vào giá trị của giống đó bền vững đến đâu.

Đã có nhiều giống lúa có thời gian tồn tại lâu dài trên đồng ruộng Việt Nam. Đó là các giống NN8, CR203, VN10 .v.v. Ra đời năm 1964, và bắt đầu phổ biến rộng rãi vào khoảng những năm 1966-1968, NN8 tồn tại mãi đến thập kỷ 80 như là một thành tựu nổi bật rất khó vượt qua. Nhưng sau một thời gian, NN8 xuất hiện một số yếu tố hạn chế, kháng rầy kém, chịu rét kém. Thế rồi CR203 xuất hiện với khả năng chống rầy rất tốt, được sử dụng rộng rãi trên miền Bắc trong một thời gian dài. Tuy nhiên, các giống trên đều là giống cải tiến và đều là ngoại nhập. Việt Nam cũng đã có một giống nổi tiếng là giống VN10 chịu lạnh tốt, có tỷ lệ gạo cao, được đưa vào sản xuất từ năm 1974, cho đến giờ vẫn được nông dân Thái Bình sử dụng. Sở dĩ, mọi giống lúa đều có giai đoạn lịch sử của nó vì tính bền vững phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thích ứng với nhiều vùng đất đai khác nhau, thích ứng với điều kiện, phương pháp canh tác, gần đây lại thêm các yếu tố mới xuất phát từ sự tác động của chính con người như sức ép thâm canh, sử dụng tràn lan thuốc bảo vệ thực vật .v.v.

Ngần ấy những thách thức trên cho ta thấy tạo giống là một lĩnh vực nghiên cứu không kém phần “rủi ro” và “mạo hiểm”. Các nhà khoa học cứ mải miết nghiên cứu, tìm tòi mãi mới tạo ra một giống, phải vật lộn với thực nghiệm để hoàn thiện, để được công nhận và rồi tự thân bươn chải trên thị trường để có sự chấp nhận từ người sản xuất, sau đó lại đối mặt với những thách thức của môi trường, sản xuất để tìm ra một giống mới với những yêu cầu cao hơn về năng suất, chất lượng. Nhà khoa học như TS Nguyễn Thị Trâm đã dành cả đời để nghiên cứu cây lúa, dù đã nghỉ hưu nhưng vẫn không ngừng nghỉ để “hoàn thành một ý tưởng đã nung nấu”.

Nguồn: Tia sáng, 7-2008, tr 26

Xem Thêm

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.