Đan sâm
Đan sâm là một loài cỏ sống lâu năm, cao 30 - 80cm, thân vuông có các gân dọc, toàn thân có nhiều lông mịn màu vàng trắng nhạt. Lá kép mọc đối, 3 - 7 lá chét hình trứng có cuống dài. Hoa mọc thành chùm ở đầu cành hay nách lá, màu xanh tím nhạt, chia thành hai môi. Quả hình bầu dục, nhỏ, màu đen. Rễ nhỏ hình trụ tròn dài, đôi khi cong queo và phân nhánh màu đỏ nâu.
Đan sâm được di thực vào Việt Nam không bao lâu, được trồng ở đồng bằng và miền núi, chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc.
Bộ phận dùng là rễ thu hái vào mùa đông và mùa thu.
Thành phần hoá học chủ yếu của Đan sâm là các diterpenoid có màu (gọi chung là các tansinon) và các polyphenol.
Tác dụng sinh học và công dụng
Theo kết quản nghiên cứu gần đây thì tác dụng sinh học của Đan sâm không những tập trung ở các tansinon kém phân cực mà còn ở các polyphenol: điển hình là axit lithospermic B và các dẫn chất của nó.
- Tác dụng trên hệ tim mạch:Trên mạch máu, Đan sâm có tác dụng làm giãn động mạch vành, tăng lưu lượng máu trong mạch vành, đẩy mạnh tuần hoàn. Nghiên cứu trên chuột, dịch nước của Đan sâm có tác dụng hạ huyết áp. Đan sâm có thể làm giảm lipid máu và triglycerid ở gan thỏ bị xơ vữa động mạch.
- Trên hồng cầu:có tác dụng làm ổn định màng hồng cầu chống lại tác nhân gây ly giải như: dung dịch nhược trương, pH thấp, saponin, nhiệt độ…
- Trên tiểu cầu:Đan sâm ức chế công hiệu hiện tượng kết tập tiểu cầu.
- Trên tim:Đan sâm có tác dụng trên bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ để điều trị các chứng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.
- Trên gan mật:Đan sâm cải thiện tình trạng phá huỷ tê bào gan cấp tính trong mô hình gây nhiễm độc bằng tetraclorua cacbon.
- Tác dụng chống oxy hoá:Đã có nhiều nghiên cứu xác nhận tác dụng chống oxy hoá của các hoạt chất từ Đan sâm.
- Tác dụng liên quan đến ung thư:Một số báo cáo trước đây cho thấy dịch chiết từ Đan sâm có khả năng ức chế 4 dòng u tế bào: ung thư mũi họng, ung thư cổ, ung thư tuyến ruột kết và ung thư biểu bì thanh quản. Đan sâm còn có tác dụng dự phòng và điều trị di căn ung thư gan, di căn tái phát xa trong thời kỳ đầu và thời kỳ cuối của ung thư gan. Ngoài ra Đan sâm còn có tính kháng viêm, tính kháng khuẩn, có tác dụng diệt sán máng và ký sinh trùng sốt rét, tính kháng nấm…
- Công dụng:theo Đông y Đan sâm vị đắng, tính hàn đi vào tâm, can. Có tác dụng hoạt huyết trừ ứ, thoát mủ, tiêu nhọt. Ngoài ra, Đan sâm còn có tính dưỡng huyết, an thần, thanh nhiệt. Theo Tây y, Đan sâm được sử dụng rộng rãi để điều trị:
+ Các bệnh mạch vành đặc biệt (nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, rối loạn tuần hoàn máu, xơ vữa động mạch).
+ Các bệnh về máu đối với phụ nữ (rối loạn kinh nguyệt, mất kinh, chứng vô kinh).
+ Các bệnh về gan (viêm gan mãn, xơ gan).
+ Các bệnh khác: đau ngực, bổ máu, an thần, cao huyết áp.
Cách chế biến
Trong Đông y, Đan sâm được chế biến trước khi dùng như sau:
- Đan sâm phiến:
Đan sâm rửa sạch, ủ mềm, thái phiến vát dày 5mm, dài 5cm. Phơi khô âm can (vì phơi nắng Đan sâm bị đen). Có thể đem rửa sạch, chưng hoặc đồ mềm rồi thái.
- Đan sâm sao tồn tính: Tiến hành sao ở nhiệt độ 120 0C đảo đều tay, đến khi bên ngoài có màu hơi đen, rây bỏ tạp bụi.
- Đan sâm thán:Đem Đan sâm sao cho đến khi toàn bộ bên ngoài tím đen, bên trong cũng có màu nâu đen, phun ít rượu vào. Phơi âm can.
Ngoài ra còn có Đan sâm trích rượu, Đan sâm trích giấm, Đan sâm sao với gạo, Đan sâm trộn miết huyết (máu ba ba), Đan sâm trộn tiết lợn.








