Đám cưới người Dao
Trước khi dạm hỏi, nhà trai nhờ người đánh tiếng với nhà gái về thời gian họ sẽ đến thưa chuyện. Người trực tiếp đi dạm hỏi là cha, mẹ chàng trai và một người đàn ông hàng xóm đứng tuổi có đức độ, có uy tín và thuộc diện gia đình khá giả. Lễ vật dạm hỏi chỉ có một chai rượu cất, mặc dù nhà gái bao giờ cũng chuẩn bị sẵn mâm cơm thịnh soạn để đãi khách.
Nếu nhà gái ưng thuận, sẽ đặt “tờ mệnh” ghi ngày tháng, giờ sinh của cô gái lên bàn thờ, vị đại diện nhà trai đặt lên đó 3.000 đồng và nhận lấy tờ mệnh. Nhà trai đem tờ mệnh đó về, đưa đến mấy thầy mo cùng với tờ mệnh của chàng trai để so đôi tuổi. Nếu số không hợp nhau, nhà trai chỉ cần cho nhà gái biết qua đôi lời nhắn gửi. Nếu hợp số nhau, nhà trai sẽ đến nhà gái lần thứ hai, đặt lên bàn thờ gia tiên 12.000 đồng để làm lễ và ít ngày sau đó, lễ đặt chân gà (tức lễ đính hôn) sẽ được tổ chức.
Trong lễ đính hôn, nhà trai đem đến nhà gái một lễ bao gồm 2 con gà, 2 chai rượu, 2 ống gạo nếp. Nếu nhà gái đem mổ ngay con gà đó để làm đồ cúng thì mọi việc được coi đó là suôn sẻ. Hai họ tiếp tục chuyện trò, thoả thuận về số lượng các đồ lễ mà nhà trai đưa sang nhà gái trong ngày cưới. Số lượng này tuỳ thuộc vào dòng họ cô gái lớn hay bé và phong tục riêng của mỗi nhóm Dao.
Với nhóm Dao Đỏ ở vùng Tràng Định (Thái Nguyên) là 4 triệu đồng, 140 kg thịt lợn, 8 lít rượu cất, 1 con gà và số thịt lợn dùng để chia phần cho những người thân thích về phía gia đình cô dâu. Với nhóm Dao Lô Gang vùng Mẫu Sơn (Lạng Sơn) là 1,5 triệu đồng, 50 kg thịt lợn, 50 lít rượu cất, 30 kg gạo và một số thịt phần. Với Nhóm Dao Thanh Y ở Đình Lập (Lạng Sơn), đồ thách cưới có phần giảm nhẹ hơn, chỉ có 40kg thịt lợn, 1 - 2 đồng bạc trắng và 1,8 triệu đồng.
Một nửa số tiền đó, nhà trai đưa sang nhà gái trước khoảng 10 ngày để mua 1 đôi hoa tai bằng vàng hoặc bạc, 2 chăn bông, 1 đôi chiếu, 2 phích nước, 2 nồi con. Những tư trang và đồ dùng này được bổ sung vào số của hồi môn cùng với toàn bộ tặng phẩm và tiền mừng của người thân, dân bản sẽ được đem về nhà trai trong ngày lễ rước dâu.
Sau lễ đính hôn, nếu không gặp điều gì xúi quẩy như giữa đường gặp rắn bò ngang, hoẵng kêu, nhện sa, thì lễ cưới sẽ được gấp rút chuẩn bị. Nhà trai xem được ngày tốt, đem 2 lít rượu đến nhà gái báo tin mới. Nhà gái nhận rượu và đem một ít ra mời khách cùng uống, 1 lít gửi biếu ông bà ngoại, vừa để tỏ lòng hiếu thảo, vừa kính báo việc sắp gả con.
Lễ cưới của người Dao còn được gọi là lễ uống rượu. Trong ngày vui đó, chỉ có chú rể người Dao Thanh Y mới đi đón dâu. Cùng đi với chú rể có 1 người hàng xóm nhưng phải là người đức độ, có cung tín, gia cảnh đề huề (như người đại diện và chứng kiến), 1 người đàn bà đứng tuổi giúp chú rể ăn vận trang phục truyền thống.
Phải chờ đến 15 giờ, chú rể mới được đến nhà gái đón dâu. Đến gần bản thì dừng lại, chờ ông đạid iện báo tin cho nhà gái và xin phép thầy mo. Mỗi lần báo tin và xin phép đó, người đại diện đều đặt lên bàn thờ vài ba ngàn đồng làm lễ. Mặc dù thầy mo đã cho phép, đoàn nhà trai vẫn không nên đến thẳng nhà gái mà phải vào một nhà hàng xóm như là một địa điểm tiền trạm.
Nhưng để vào được nhà tiền trạm này, chú rể khoác lên người bộ áo cưới có khá nhiều vải hoa văn sặc sỡ trông như những lá bùa và phải qua 3 lần dừng trước dải lụa đào do 4 người phụ nữ giăng ngang và hát những bài ca chúc mừng. Cứ sau mỗi bài hát, người đại diện cho nhà trai lại vui vẻ thưởng cho 4 người ngăn đường 12.000 đồng để dải lụa đào được mở ra. Ngày hôm sau, khi sang nhà gái, họ phải trải qua 2 lần ngáng đường như thế, 1 lần ở cửa nhà, 1 lần ở cửa buồng cô dâu.
Tại nhà gái, bố cô dâu trịnh trọng đặt lên bàn thờ 1 mâm cơm cúng. Thầy mo rì rầm trình báo với tổ tiên về việc có 1 người con gái trong gia đình đi làm dâu ở dòng họ khác. Cô dâu vái lạy tổ tiên 3 lần trước sự chứng kiến của gia tộc. Theo sau cô là đoàn người đi đón dâu của họ nhà trai, kể cả những người gánh lễ vật đến nhà gái từ 2 hôm trước, và một số người nhà gái đưa dâu cùng với của hồi môn.
Về đến nhà trai, một nghi lễ trang trọng nhất trong ngày cưới được tổ chức: cô dâu vái lạy tổ tiên nhà chồng. Bàn thờ trong ngày cưới được gọi là Hồng Đường (tiếng Dao là Hoòng Toòng), có kê một dãy bàn ghế trang trọng, trên bàn 12 cái bát con, 12 đôi đũa, 12 chén rượu tượng trưng cho 12 dòng họ khởi nguyên của người Dao và vài bát gan lợn.
Bố mẹ chàng rể chắp tai mời 12 vị đáng kính nhất của chủ và khách lên ngồi vào 2 dãy ghế ở 2 bên bàn. Thầy mo bắt đầu làm các nghi lễ. Cô dâu và chú rể được dẫn đến trước Hồng Đường. Cô dâu trùm khăn kín mặt, đứng lạy. Chỉ có chú rể là quỳ xuống 3 lần, mỗi lần 3 lễ lạy tổ tiên. Lễ xong cô dâu và chú rể vào buồng riêng, dành mấy gian ngoài cho quý khách nhắm rượu và chuyện trò.
Hai ngày sau, đôi vợ chồng trẻ mới đưa nhau về nhà gái làm lễ lại mặt (tiếng Dao là ùi mỉn). Gia đình nhà trai cho 1 bé gái (từ 12 - 15 tuổi) đi theo để khi đến gần nhà gái thì gánh giúp đồ lễ. Đồ lễ có gà, rượu, bánh (hoặc gạo). Ngày hôm đó, chú rể được bố vợ dẫn đi chào họ hàng thân thích. Hôm sau, đôi vợ chồng trẻ mới quay về nhà trai, cuộc sống lứa đôi mới thực sự bắt đầu.








