Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 06/08/2010 22:41 (GMT+7)

Dải ven biển thấp của Việt Nam chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu do mực nước biển dâng

Dải ven biển thấp của Việt Nam

Dải ven biển của các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng sẽ là những khu vực bị ảnh hưởng trực tiếp khi nước biển dâng. Trên thế giới có tới 60% dân số sống trong vòng 60 km tính từ bờ biển vào sâu trong lục địa, 75% các đô thị có dân số trên 2 triệu người nằm trên bờ biển, 25% các hoạt động kinh tế là ở dải ven biển.

Việc xác định khu vực dải ven biển thấp của Việt Nam cần được tiến hành có cơ sở khoa học, dựa trên báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng”. Theo kịch bản B2 mà Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến nghị cho các bộ, ngành và địa phương làm định hướng ban đầu để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu do mực nước biển dâng thì tới năm 2050 mực nước biển của Việt Nam dâng cao 0,30 m so với thời kỳ 1980-1999 và dâng 0,75 m vào năm 2100. Trong tính toán chưa xét đến các yếu tố tác động của sóng, thuỷ triều, nước biển dâng do bão, lũ và các cơ chế thuỷ động lực khác. Kết quả tính toán trên mô hình cho biết, mức độ ngập lụt khu vực đồng bằng sông Cửu Long ứng với kịch bản nước biển dâng trong giai đoạn từ 2020 đến 2100 qua các thập niên được thống kê trên bảng 1. Như vậy, nếu lấy mốc năm 2050 và xét đến các yếu tố tác động khác, mực nước biển dâng giả định lớn gấp 2 lần con số tính toán; tức là 0,60 m. Do đó, sai số giới hạn (độ chính xác) xác định độ cao địa hình trong quy hoạch dải ven biển thấp của Việt Nam không được lớn hơn ±0,6m. Nếu nhận sai số trung phương xác định độ cao điểm địa hình bằng 1/3 sai số giới hạn, thì sai số trung phương đo độ cao điểm địa hình sẽ là ±0,2m. Con số này sẽ là cơ sở để chọn giải pháp công nghệ khi tiến hành đo đạc quy hoạch dải ven biển thấp của Việt Nam .

Việt Nam với đường bờ biển kéo dài từ mũi Cà Mau tới Móng Cái có độ dài trên 3200 km, sẽ chịu ảnh hưởng do tác động mạnh của biến đổi khí hậu và trước hết là mực nước biển dâng. Cả nước có 29 tỉnh, thành phố có đường bờ biển, với dân số 45 triệu người có tổng diện tích 139.640 km 2, riêng 125 huyện ven biển với dân số 20 triệu người có diện tích 56.000 km 2. Đây thực sự là khu vực phát triển kinh tế năng động với nhiều khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng, khu du lịch, các vùng chuyên nuôi trồng thuỷ sản… đặc biệt, tại đây còn có các khu bảo tồn thiên nhiên, danh lam thắng cảnh nổi tiếng không những chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cả thế giới, như vịnh Hạ Long, biển Nha Trang, đảo Phú Quốc,…

Một số khu vực đất ngập nước điển hình dải ven biển thấp của Việt Nam

Khu vực miền Bắc:Khu vực Bắc Việt Nam bao gồm dải ven biển Ninh Bình-Nam Định-Thái Bình-Hải Phòng-Quảng Ninh có các đặc trưng là dải ven biển thuộc lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình với địa hình đồng bằng thấp. Khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh có đặc trưng bởi địa hình đồi núi thấp, nhiều đảo ven biển, là vùng kinh tế phát triển với các mỏ than lớn nhất Việt Nam . Một khi mực nước biển dâng cao sẽ gây tác động tới sản xuất kinh tế và đời sống dân sinh, môi trường.

Đất ngập nước ven biển đồng bằng sông Hồng: Khu vực cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng có diện tích đất ngập nước (ĐNN) ven biển là 22.487 ha và 102.482 ha ĐNN mặn cửa sông với 971 loài thuộc các động thực vật chính sống trên cạn và dưới nước, trong đó chim chiếm 21,3%, côn trùng 18%, chân khớp thuộc Zoplankton 13,8% và cá 13,4%. Thành phần loài thực vật gồm: 12 loài cây ngập mặn và 31 loài đi theo đã tạo nên thảm thực vật quan trọng, không chỉ là công cụ bảo vệ bờ biển mà còn là nơi sống, di cư của chim, cá.

Đất ngập nước vùng cửa sông Tiên Yên (Quảng Ninh): Với diện tích 5.000 ha. Rừng ngập mặn (RNM) ở đây thu hút nhiều động vật có giá trị, đặc biệt là chim nước, chim di cư; là nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài hải sản như cua, mực, cá Mòi, Đối trích.

Đất ngập nước vùng cửa sông Văn Úc (Hải Phòng):Đây là địa phương có diện tích ĐNN ven biển thuộc loại lớn của nước ta. Diện tích bãi bồi ven biển Hải phòng là 17.000 ha, diện tích chưa có RNM là 11.000 ha, đầm nuôi thuỷ sản nước lợ là 5.000 ha.

Vùng đất ngập mặn cửa sông Ba Lạt (Tiền Hải, Giao Thuỷ): Diện tích RNM 6.008 ha và diện tích bãi bồi là 25.934 ha, bãi triều được bồi đắp do phù sa với tốc độ hàng năm tương đối nhanh (26-27m/năm).

Đất ngập nước cửa sông Thái Bình – Trà Lý: Vùng cửa sông điển hình, bãi triều được hình thành do sự bồi đắp phù sa hàng năm với tốc độ nhanh. Diện tích bãi triều là 11.409 ha, trong đó diện tích có khả năng trồng RNM là 6.775 ha. Hiện tại diện tích RNM là 3.388 ha với 52 loài thuộc 48 chi và 26 họ, các loài chủ yếu là Bần chua, Trang, Mắm quăn, Giá, Sú.

Khu vực miền Trung: Ở khu vực miền Trung Việt Nam bao gồm dải ven biển Đà Nẵng – Thừa Thiên Huế - Quảng Trị có đặc trưng bởi các hệ đầm phá lớn nhất Việt Nam cũng sẽ bị tổn thương nặng khi mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu.

Đất ngập nước đầm phá dải ven biển miền Trung từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận: Với tổng diện tích các đầm phá này khoảng 447,7 km 2. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau các đầm phá đang được quản lý và khai thác không hợp lý nên nhiều đầm đang bị suy thoái.

Đến nay, xét về mặt đa dạng sinh học và các chức năng sinh thái, 5 đầm phá ven biển có thể được coi là vùng ĐNN quan trọng của Việt Nam: Đầm Ô Loan (Phú Yên), đầm Thị Nại và Đề Gi (Bình Định), đầm Cầu Hai (Thừa Thiên Huế), đầm Nại (Ninh Thuận).

Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai: Là hệ đầm phá lớn nhất nước ta, chạy dài dọc theo bờ biển tỉnh Thừa Thiên Huế trên 67 km với diện tích khoảng 216 km 2, là nơi dừng chân quan trọng của nhiều loài chim di cư từ phía bắc vào phía đông như vịt trời, ngỗng trời, chim nước.

Trong hệ đầm phá này có điểm cát trắng Phú Xuân có trữ lượng khoảng 8 triệu m3 được dùng làm nguyên liệu thuỷ tinh.

Khu vực miền Nam: Vùng châu thổ Nam bộ gọi là đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm các tỉnh Long An, Tiền giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu với tổng diện tích 4 triệu ha chịu ảnh hưởng nặng nề khi nước biển dâng. Đồng bằng sông Cửu Long là trọng điểm kinh tế nông nghiệp của cả nước, hàng năm đóng góp 53% trữ lượng lúa gạo, 95% lương thực, 57% thuỷ sản xuất khẩu, tạo ra một giá trị chiếm 27% GDP của cả nước. Trước mắt, đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động mạnh của thuỷ triều biển Đông với chế độ bán nhật triều không đều, đất bị xâm mặn ảnh hưởng tới năng suất cây trồng. Nhất là trong những năm gần đây, sự xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vào đầu năm 2010, sự xâm nhập mặn vào sâu thậm chí tới 60 km. Cùng với sự dâng cao mực nước biển trong tương lai gần, sự xâm nhập mặn chắc chắn gây hậu quả nghiêm trọng.

Đất ngập nước mặn ven biển và cửa sông đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những hệ sinh thái giàu có nhất. ĐNN ven biển phân bố dọc ven biển Đông, phía Tây Nam bán đảo Cà Mau và vịnh Thái Lan, trong đó diện tích ĐNN ngập thường xuyên là 879.644 ha phân bố ở vùng biển nông có độ sâu nhỏ hơn 6m khi triều kiệt, ĐNN mặn ngập không thường xuyên là 756.425 ha. Các dải rừng ngập mặn phân bố dọc ven biển, ở những vùng bãi bùn ngập mặn là nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng nhiều loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao; nơi bảo tồn đa dạng sinh học của 40 loài cây ngập mặn; RNM có vai trò đặc biệt quan trọng hình thành nên bức tường thực vật bảo vệ bờ biển khỏi xói mòn và là nơi xử lý hiệu quả nhất chất thải đô thị, chất thải công nghiệp làm cho nước biển ven bờ tránh bị ô nhiễm.

Vườn Quốc gia đất Mũi Cà Mau:Có diện tích là 41.862 ha. Khu bảo tồn này vốn là khu RNM tự nhiên nhưng bị phá huỷ trong chiến tranh và hiện nay cũng bị tác động của các hoạt động kinh tế. Là vùng tiêu biểu cho ĐNN ven biển Nam bộ và các giá trị về đa dạng sinh học, kinh tế, xã hội, văn hoá, lịch sử của vùng ĐNN tận cùng phía Nam của đất nước.

Khu ĐNN U Minh Thượng: Là vùng đầm rừng trên đất than bùn với diện tích lớn còn sót lại rất ít ở Việt Nam , có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của hệ sinh thái rừng ngập nước trên đất chua của ĐBSCL.

Khu bảo tồn Vồ Dơi:Có diện tích 3.394 ha, là vùng rừng tràm và trảng cỏ ngập nước theo mùa trên vùng than bùn U Minh với chức năng và nhiệm vụ chính là bảo tồn hệ sinh thái ĐNN mặn và các loài chim nước. Hệ thực vật gồm 3 kiểu thảm chính là rừng tràm bán tựnhiên, rừng tràm trồng và trảng cỏ ngập nước. Hệ động vật gồm 82 loài chim với nhiều loài chim nước, ngoài ra còn có Nai, Trăn gấm, Sóc đỏ.

Khu bảo tồn thiên nhiên RNM Cần Giờ: Diện tích 75.740 ha, tại đây có tới gần 160 loài thực vật, chủ yếu là các loài cây đặc trưng vùng ĐNN như bần trắng, mắm trắng, đước đôi, trang, đưng … RNM Cần Giờ đã được Tổ chức Sinh quyển và Con người (MAB) thuộc UNESCO công nhận là khu Dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam, nằm trong mạng lưới 368 khu Dự trữ sinh quyển của thế giới. RNM Cần Giờ giờ đây đã được coi là lá phổi xanh của thành phố Hồ Chí Minh.

Khu bảo tồn thiên nhiên Thạch Phú (Bến Tre): Với diện tích 4.510 ha, có chức năng và nhiệm vụ chính là bảo tồn hệ sinh thái RNM vùng cửa sông Cửu Long và di tích lịch sử cấp quốc gia đường Hồ Chí Minh trên biển ở Nam bộ.

Một số loại hình ĐNN trên biển, đảo, quần đảo

Rạn san hô là một trong các hệ sinh thái đặc sắc của biển Việt Nam , nơi có đa dạng sinh học rất cao, cảnh quan kỳ thú. Các rạn san hô phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam trên diện tích khoảng 1.122 km 2, tập trung nhiều ở vùng Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. San hô Việt Nam rất đa dạng và phong phú với khoảng 350 loài tạo rạn kèm theo khoảng 3.000 loài sinh vật khác có đời sồng liên quan và gắn bó với vùng rạn san hô, trong đó có khoảng 2.000 loài sinh vật đáy, cá và nhiều loài có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm,…

Hệ sinh thái san hô có cấu trúc phức tạp, rất nhạy cảm với sự đe doạ của môi trường, đặc biệt là sự đe doạ của con người như đánh bắt bằng thuốc nổ, hoá chất độc; khai thác san hô bừa bãi; hoạt động du lịch,…

Ở vịnh Hạ Long phát hiện được 205 loài san hô cứng, 27 loài san hô sừng, san hô mềm và san hô bò.

Vườn Quốc gia (VQG) Côn Đảo:Là khu vực ĐNN tự nhiên, chưa hề bị tác động bởi con người, có nhiều loài động thực vật quý hiếm bị đe doạ ở mức độ toàn cầu. Hiên tại, Côn Đảo có 77 loài động thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và IUCN, trong đó có 44 loài ở biển. Vùng ĐNN của VQG Côn đảo được các nhà khoa học đánh giá là một trong những vùng biển có rạn san hô đa dạng và phong phú nhất và đã được Tổ chức Bảo tồn động vật hoang dã thế giới chọn là một địa điểm bảo tồn rùa. Côn Đảo có 219 loài san hô, thuộc 17 họ, tập trung thành khu vực lớn, kèm theo là 160 loài cá sống gắn bó với nó.

Giải pháp công nghệ thành lập hệ thống cơ sở dữ liệu cho dải ven biển thấp của Việt Nam chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu

Do đặc thù của dải ven biển thấp của Việt Nam , nên việc chọn giải pháp công nghệ thành lập hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu là hết sức cần thiết. Sau khi khảo sát các công nghệ hiện có, đồng thời những yêu cầu về kỹ thuật trong đo đạc để thành lập hệ thống cơ sở dữ liệu theo văn bản của Nghị định số 102/2008/NĐ-CP về việc “Thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về Tài nguyên và Môi trường”, giải pháp công nghệ hữu ích là tích hợp ba công nghệ Viễn thám vệ tinh, quét lade LiDAR và GIS.

Kết luận

Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng đã được dự báo có cơ sở khoa học trên thế giới cũng như ở nước ta. Đứng trước tai biến thiên nhiên sẽ xảy ra, nhiệm vụ của các bộ, ngành trong cả nước nói chung và nhiệm vụ cụ thể trong ngành Đo đạc và Bản đồ là thành lập hệ thống cơ sở dữ liệu theo giải pháp công nghệ bằng tích hợp ba công nghệ tiên tiến là Viễn thám vệ stinh, quét lade LIDAR và GIS cho các khu vực dải ven biển thấp của Việt Nam. Đây sẽ là những dử liệu quan trọng trong quá trình đánh giá tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam và là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu do mực nước biển dâng./.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.