Đại binh đoàn sinh viên... năm ấy
Tôi phải gửi lời xin đại xá, nếu như bài viết mỏng manh trong nước mắt này, chỉ nói được 1/1000 tấm lòng tôi, một người lính cũ, chỉ nói được 1/1000 sự vĩ đại của cuộc chiến vĩ đại và chỉ nhắc được 1/1000 những bạn bè đồng đội của tôi... những người anh hùng vô danh “ngoài trí tưởng tượng”... Những ai có dịp vào thăm Thành cổ Quảng Trị, sẽ ngạc nhiên trước một tượng đài kỷ niệm, nó đáng ngạc nhiên vì nó không phải là một pho tượng giơ chân giơ tay mà nó là hình một cuốn sách đang mở rộng, nhưng cuốn sách đó lại là một lá cờ, góc có ngôi sao đỏ đang bay lên, kiêu hãnh, phía trước, dưới chân cuốn sách là một ngọn đuốc hình cây bút và dòng chữ “Đài chứng tích sinh viên - Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị 1972”. Chính giữa cuốn sách là 11 tấm phù điêu xếp hàng ngang kể về chiến công của các anh từ lúc nhập ngũ, chiến đấu đến ngày nay... Mặt sau lá cờ - sách ấy là dòng chữ: “Nơi đây, Thành cổ Quảng Trị bao nhiêu sinh viên đã từng tham gia chiến đấu, nhiều người trong số họ đã hy sinh anh dũng, các anh vẫn sống mãi trong lòng đất nước, nhân dân và đồng đội thân yêu”.
Binh đoàn sinh viên ấy, bắt đầu hình thành quãng tháng 9năm1971, và tiếp đó là các đợt tuyển quân suốt 1972. Kể từ sau Mậu Thân 1968, saukhiBác Hồmất1969... sinh viên các trường lần lượt lên đường. Hầu như Trường Đại học nào cũng có mặt... Đại học Tổng hợp, Đại học Nông nghiệp, Đại học Mỹ thuật, Đại học Y, Đại học Thể dục Thể thao, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Bách Khoa... Tới tháng 1năm1972 các sinh viên năm thứ 5 đang làm luận án tốt nghiệp, và cả các thầy giáo trẻ, cả các nghiên cứu sinh vừa chân ướt chân ráo tu nghiệp ở nước ngoài như Liên Xô, Triều Tiên, Bungari, Tiệp Khắc, Trung Quốc... cũng nhập ngũ. Tất cả đeo lon binh nhì, nhiều người đeo kính cận, sách vở, đàn ghita, quân phục tự may chữa lại, đỏm dáng, sính đệm tiếng Nga khi nói chuyện, thích chuồn đi ngao du khắp mọi nơi khi có thể, ưa ghi nhật ký và làm thơ mọi lúc... và đặc biệt khi chiến đấu rất dũng cảm! “Dũng cảm và lãng mạn”. Hai từ đó là đặc điểm nổi trội của những người lính sinh viên năm ấy. Hoàng Tích Minh hy sinh cạnh chiếc cặp vẽ còn nhiều ký họa ngổn ngang, anh ra đi từ Trường Mỹ thuật Việt Nam . Nguyễn Văn Thạc (sinh viên Trường Đại học Tổng hợp - Khoa Toán) thì để lại những vần thơ thế này: “Đêm trắng trong... là đêm của em - Đèn thành phố và sao trời lẫn lộn - Đêm của anh xếp kín trời bom đạn - Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa”. Trong ca từ của bài hát “Nếu tôi không trở lại” của anh sinh viên Nguyễn Quý Lăng (trường Đại học Tổng hợp) một người lính xe tăng, có lời: “Nếu tôi không trở lại, chiều Hồ Tây còn xanh trong mùa thu/Nếu tôi không trở lại, hoa bằng lăng còn tím không em?”... Trong Bảo tàngLịch sửQuân sự Việt Nam có một bức tranh chân dung Bác Hồ vẽ bằng máu, đó là tác phẩm của anh sinh viên Lê Duy Ứng, lính sư đoàn 325, nhập ngũ từ trường Đại học Mỹ Thuật, trên đó có dòng lưu huyết: “Ánh sáng - Niềm tin” anh để lại trước khi ngất đi sáng 28tháng5năm1975... sau phát đạn chống tăng ác liệt bắn trúng xe tăng anh đang ngồi trên... Anh lính trẻ Hoàng Nhuận Cầm (Đại học tổng hợp Văn) thì viết: “Mẹ ơi! trước lúc con vĩnh biệt/Con không kịp thấy chỗ con nằm/Con chỉ nhớ rằng sau tiếng nổ/vẫn quỳ trước Mẹ, trước vầng trăng”. Anh lính Phùng Huy Thịnh, sư 325 (sinh viên Đại học Tổng hợp) viết về vợ người liệt sỹ thế này: “Hoa xoan giờ bói không ra nữa/Nhà ngói dựng nên tường sát tường/Cô gái làng bên giờ tóc ngả/Chồng chỉ còn tên lúc thắp hương”. Hồ Tú Bảo, lính sư đoàn 325 (sinh viên Đại học Tổng hợp) viết: “Khi nào em trở về/Hãy lắng nghe cơn mưa rào mùa hạ/Hãy lắng nghe tiếng thì thầm cây lá/Hãy lắng nghe tiếng đất hát đêm đêm/Đấy là lời anh gửi cho em”. Nguyễn Hải Nghiêm (sinh viên Trường Đại học Mỹ thuật) viết: “Đồng đội tôi trong chiến dịch bảy hai/Xương thịt nhiều hơn đất đai Thành cổ/Bao đồng đội ra đi không về nữa/để đất đai mãi mãi tươi màu”...
Những người lính sinh viên năm xưa ấy, nhiều người đã hy sinh, vĩnh viễn nằm trong lòng đất mang theo nhiều bí mật không bao giờ người đời biết đến! Nhiều người sau đó bôn ba theo các nẻo đường huyền thoại đau đớn của chiến tranh, nào cuộc chiến trên sông rạch miền đất Chín Rồng, nào những trận thuỷ chiến ngoài hải đảo xa xôi, nào tả xung hữu đột biên giới phía Bắc 1979, nào lăn lộn trường kỳ với lối đánh hiểm hóc của đối phương ở biên giới Tây Nam (phần lớn hy sinh vì mìn lá và B40). Nào phải nằm rừng, đói khát trong những năm tháng truy đuổi Ful-rô ở Tây Nguyên. Những người lính sinh viên hầu như có mặt trong khắp Hải - Lục - Không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam - khắp mọi miền Tổ quốc! Bất kể trong mặt trận nào. Các anh đều hoàn thành nhiệm vụ, ngay cả những người phía đối phương cũng phải thừa nhận. Ngay trong đêm diễn ra cầu truyền hình “Một thời hoa lửa” 2007. Một người xưng danh: “Tôi là Nguyễn Thanh Quang - Toán trưởng, tiểu đoàn 6 - Thuỷ quân lục chiến - quân đội Sài Gòn cũ... Khi đó tụi tôi mới 18, 20 tuổi; có hải quân, không quân, pháo binh yểm trợ mà các ông không có, chúng tôi tấn công vào các trọng điểm mà trước đó pháo binh và không quân của chúng tôi đã dập nát rồi, thế mà vẫn gặp phải sức kháng cự mãnh liệt hầu như không thể nào tấn công được... Tôi có nghe nói đó là Trung đoàn 48, sư 320 thép, trong đó có nhiều sinh viên.... Tôi rất thán phục những người lính đã bỏ mình nói chung và Thành cổ nói riêng. Tôi nghĩ mặt trận đó - thực tế họ đã thắng!”...
Năm tháng trôi đi... Những người lính sinh viên trai trẻ ngày ấy “Chân bước đi, đầu không ngoảnh lại” nay đã trạc lục tuần, tóc muối tiêu, tóc bạc phơ phơ, nhiều người vẫn trong quân ngũ, hàm tướng, nhiều người giữ trọng trách trong các cơ quan dân chính Đảng, trong Chính phủ và Quốc hội, nhiều người trở thành văn nghệ sỹ nổi tiếng, được nhân dân yêu quý... Nhiều người trở thành Giáo sư, Tiến sỹ tài năng trong các Trường Đại học. Có nhiều cống hiến to lớn cho Tổ quốc về khoa học và tiến bộ xã hội... Mà trong bài viết giản dị này không thể thống kê hết tên họ và chiến công của các anh ra đây... Cho dù ở bất cứ môi trường, hoàn cảnh nào, các anh vẫn giản dị, chân thực! Năm tháng gian nan, khổ đau, ác liệt của chiến tranh mà số phận mang lại, chỉ làm các anh thêm yêu quý cuộc sống an bình ngày hôm nay. Nhìn các anh, tóc bạc phơ, mặt đầy dọc ngang sương gió (vết ngang dọc được dầy thêm qua thời bao cấp) vẫn đang tấu hài, đọc thơ, đàn hát... mỗi khiđến ngàykỷ niệm 30tháng4 hoặc 22tháng12 về... Tôi lại thấy tự hào các anh đã làm tròn lời hứa trước Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông gặp toàn thể Binh đoàn sinh viên dịp Tết Nhâm Tý (1972). Khi đó ông thay mặt Quân uỷ Trung ương chúc Tết binh đoàn ở Non nước (Ninh Bình). Sau lời chúc Tết, cả Binh đoàn “u ra” vang rền, tiếng “u ra” ấy mãi mãi còn vang rền trong chiến công quân đội nhân dân Việt Nam, trong ký ức hào hùng của Nhân dân Việt Nam.
Tháng 7 năm2010








