Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 22/04/2006 15:40 (GMT+7)

Đặc điểm văn hoá mùa Thăng Long

Năm 1010, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư ra Đại La. Khi đoàn thuyền ngự cập bến, thấy rồng vàng bay lên, nhà vua đổi tên Đại La thành Thăng Long.

Theo Chiếu dời đôbiên soạn đầu xuân Canh Tuất 1010, đến mùa thu năm ấy cả triều đình Đại Việt ra Đại La, nơi đây là “ Trung tâm bờ cõi đất nước có cái thế rồng cuộn hổ ngồi”. Các dòng sông (Hồng, Thiên Phù, Tô Lịch, Kim Ngưu) cùng đổ về rồi mới chảy ra biển. Các cụm núi tây bắc, đông bắc đều dồn tới đây rồi lan toả. Núi Voi, núi Cung dường như chiếc mộc vững chắc của Thăng Long.

Mặc dù năm 1397 Hồ Quý Ly cho dỡ gạch, đá, gỗ, ngói ở Thăng Long để xây cung điện ở Tây Đô (Thăng Long trở thành Đông Đô) và năm 1831 vua Minh Mệnh cho đổi tên Thăng Long thành Hà Nội, Thăng Long vẫn không mất vị trí trung tâm của nó. Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đó là chưa nói đến trong lịch sử, trong đó các triều vua Trần, Hậu Lê kế tục đều đóng đô ở Thăng Long. Chẳng thế mà trong dân gian có câu ca:

Thứ nhất Kinh Kỳ

Thứ nhì phố Hiến

Rồi thì:

Long thành thật xứng cố đô

Kim âu chẳng mẻ cơ đồ dài lâu”

Nhà Lý đã mở đầu kỷ nguyên văn minh Đại Việt và kỷ nguyên văn hoá Thăng Long. Về tổ chức nghệ thuật, Lý Thái Tổ đặt ra chức Quản giáp cho những người hát múa ở làng xã khi mở hội vào đám tế xuân. Theo sách “ Khởi đầu sự lục”, ca nhi nam gọi là kép , ca nhi nữ gọi là đào . Tên gọi đào-kép có từ đấy, nhưng không theo cách hiểu như bây giờ.

Đến thời Hậu Lê, Bộ Đồng Văn và Nhã nhạc do quan Thái thường trông coi, còn âm nhạc và múa hát dân gian do Giáo phường cai quản. Như vậy, từ thời Lý đến thời Lê nghệ thuật múa hát đã phát triển theo hướng chuyên nghiệp hoá, cho nên đến thời Minh Mệnh mặc dù ở Huế đã có đội múa cung đình, nhưng hàng năm đến các ngày lễ Vạn thọ, Thiên thọ, những người hát hay, múa giỏi ở Hà Nội vẫn được mời vào Huế biểu diễn.

Từ thời Lý - Trần đã có sự tiếp xúc của múa dân tộc Việt ở Thăng Long với múa các dân tộc khác.

Năm 1044, vua Lý Thái Tông đưa hàng trăm vũ nữ Chiêm Thành (giỏi múa hát khúc Tây thiên) về Thăng Long. Kể từ đấy trong chương trình múa cung đình ở Thăng Long có múa Chàm. Đến thời Trần, từ khi Lý Nguyên Cát bị bắt làm tù binh, phải dạy múa hát cho những ca nhi ở Thăng Long để diễn tuồng “Tây Vương mẫu hiến bàn đào”, múa hỷ khúc nhà Nguyên được du nhập vào múa tuồng Bắc. Đến đầu thế kỷ XX trong phong trào tuồng tân thời ở Hà Nội có những diễn viên tuồng đã học vũ thuật và múa kinh dịch Trung Hoa, thậm chí có những nghệ sỹ như Nguyễn Văn Thịnh (Trùm Trịnh), Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ) Bạch Trà, Dịu Hương diễn xen cả tuồng lẫn chèo. Hồi đó múa của tuồng Xuân Nữ chịu ảnh hưởng kinh dịch Quảng Đông. Rồi những lớp múa cổ điển châu Âu, lớp múa nhịp điệu của những nữ Pháp kiều tại Hà Nội… múa dân tộc Việt ở Thăng Long tiếp xúc với nhiều luồng ảnh hưởng: Chàm, Trung Hoa, Pháp… Những điều kiện địa lý, lịch sử, chính trị, xã hội nêu trên đã tạo ra đặc điểm nghệ thuật múa ở vùng văn hoá Thăng Long.

Thăng Long là nơi hội tụ các tài năng múa của dân tộc Việt cũng như của các dân tộc khác, cho nên những sáng tạo múa dân gian ở đây nổi trội so với các nơi khác. Ở nước ta nhiều tỉnh thành như Cao Bằng, Thanh Hoá, thành phố Hồ Chí Minh có múa rồng, những điệu múa này khá phong phú. Tại Hà Nội, huyện Thanh Trì là một trong những nơi có múa rồng ở các sinh hoạt văn hoá làng. Các đội rồng của Triều Khúc, Vĩnh Quỳnh, Đại Áng, Đông Mỹ, Ngọc Hồi, Liên Ninh là những đội có tài nghệ điêu luyện. Đặc biệt đội Triều Khúc có tiếng xưa nay. Kết quả sưu tầm múa dân tộc Việt Nam trong mấy chục năm qua cho thấy múa trống bồng xuất hiện ở Hà Tĩnh, Quảng Ngãi v.v… nhưng ở Hà Nội nó có phong phú hơn vì có những dị bản ở hội làng Triều Khúc, Nhật Tân, hội đền Đồng Nhân.

Múa dân gian ở Thăng Long phong phú bởi nó là kết tinh của múa dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ. Còn một nguyên nhân nữa là nó được kế thừa di sản múa cung đình thời Trần, Lê sau khi nhà Nguyễn dời đô vào Phú Xuân: múa Bài bông do Thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải sáng tác để mừng chiến thắng quân Nguyên Mông trong 3 ngày hội: “Thái Bình diên yến” ở Thăng Long.

Đến thời Nguyễn nó được đưa vào hát ca trù ở Lỗ Khê với đội hình chủ đạo 2 hàng ngang, mỗi hàng có số người chẵn (4, 6, 8) biểu diễn. Ngày nay múa Bài bông đã dân gian hóa. Ở Hà Nội múa dân gian gắn với phong tục tập quán địa phương. Múa cờ lệnh (với hình thức 3 ván cờ thuận và 3 ván cờ nghịch) gắn với hội làng Phù Đổng. Bằng thủ pháp ước lệ tượng trưng, điệu múa phản ánh cuộc chiến đấu gian nan của Thánh Gióng với giặc Ân. Múa rồng lửa của làng Khương Thượng gắn với giỗ trận Đống Đa. Múa rắn gắn với hội làng Lệ Mật. Trong những điệu múa này, một số tạo hình và động luật múa võ được sử dụng. Múa cờ, múa rồng lửa, múa rắn trở thành vốn riêng của Hà Nội. Đặc điểm này được tạo nên bởi nội dung nghệ thuật múa: thần tích của các thành hoàng làng, những người Hà Nội xưa có công cứu nước hoặc cứu dân. Gìn giữ bản sắc nghệ thuật múa dân tộc Việt là một đóng góp lớn của nhiều thế hệ vũ công, nữ nhạc trong quá trình tiếp xúc với múa Chàm thời Lý và với múa hỷ khúc Trung Hoa từ thời Trần đến thời Nguyễn. Khả năng bản địa hoá các yếu tố múa ngoại dị càng làm giàu ngôn ngữ múa dân tộc Việt ở Thăng Long.

Tiến trình văn hoá múa Thăng Long - Hà Nội trên mảnh đất ngàn năm văn hiến làm nổi bật những đặc điểm như:

Sự kết tinh của nghệ thuật múa dân gian dân tộc Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Từ thời Lý hình thành 2 dòng múa dân gian và múa bác học (trong cung đình). Đến thời Nguyễn một phần múa cung đình đã dân gian hoá.

Múa dân gian phản ánh cuộc sống lao động và chiến đấu giữ nước của người Hà Nội xưa, tạo nên cái riêng từ nội dung đến hình thức nghệ thuật múa.

Múa dân tộc Việt nơi đây vẫn đậm đà bản sắc dân tộc mặc dù đã giao tiếp với nghệ thuật múa Chăm và Trung Hoa, Pháp.

Bốn đặc điểm trên thể hiện tính quy luật của sự phát triển truyền thống văn hoá Thăng Long nói chung và truyền thống múa ở Thăng Long nói riêng.

Có nhận thức được tính quy luật này mới có thể phát triển múa dân tộc Việt trong quá trình xây dựng nền nghệ thuật múa mới trong thế kỷ XXI tại thủ đô.

Nguồn: Dân tộc và Thời đại, số 66, 5/2004, tr 9, 10

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.