Da & giun sán
Trong cuộc chiến đấu chống vi sinh vật, làn da lúc thắng, lúc thua. Nhưng đối đầu với giun sán, làn da luôn luôn là kẻ chiến bạn. Vì giun sán là những đối thủ hung bạo quỷ quyệt, ngoài đường xâm nhập vào cửa khẩu của bộ máy tiêu hoá, chúng còn tấn công làn da bằng cả lực lượng hải lục không quân với chiến thuật nội công, ngoại kích.
Xâm nhập qua đường xuyên phá da
Ấu trùng giun mócgiai đoạn II phục sẵn ở nơi đất nhiễm giun. Khi động vật chó, mèo, người đi chân không hay không mang găng tay bảo hộ lúc làm cây kiểng tiếp xúc với đất nhiễm giun, ấu trùng sẽ chui xuyên da xâm nhập vào cơ thể. Di chuyển dưới da một thời gian, ấu trùng chui vào hệ tuần hoàn lên phổi, qua yết hầu vào thực quản, xuống ống tiêu hoá trưởng thành, đẻ trứng. Trứng theo phân ra ngoài nhiễm giun cho đất.
Giun móc được Creplin mô tả năm 1845 dưới tên Anky postoma doudenalevà Stiles mô tả năm 1902 với tên Necator americanus.
Ấu trùng giun lươnRhabditoidesgiai đoạn I, chuyển sang giai đoạn II Stroguloidestrong đất, trong thịt động vật chưa nấu chín, có thể xuyên qua da và niêm mạc tiêu hoá để vào máu. Khi còn ở da, ấu trùng di chuyển tạo thành những đường ngoằn ngoèo. Giun lươn được biết từ năm 1876 do BS Normand phát hiện ở một số lính viễn chinh cư trú tại Nam Kỳ trong bệnh tiêu chảy Nam Kỳ. Sau đó, từ này được bổ túc là bệnh lỵ sau tiêu chảy có phối hợp với giun lươn.
Giun lươn sinh sản theo hai phương thức: sinh sản hữu tính gián tiếp ở đất và sinh sản trực tiếp ở ruột. Khi vào máu, ấu trùng qua phổi, yết hầu, thực quản, dạ dày và trưởng thành ở ruột non. Trứng sinh ra nở thành ấu trùng ngay trong ống tiêu hoá, một số theo phân ra ngoài, một số ở lại tái nhiễm cho ký chủ. Vì có sự tái nhiễm, giun lươn tồn tại trong ruột bệnh nhân hơn 30 năm.
Ấu trùng sán mángShistosomatrong các ao hồ nhiễm sán sẽ chui xuyên qua da người khi tiếp xúc, hoặc xuyên qua niêm mạc tiêu hoá khi ăn phải các động vật thân mềm sò ốc tôm cua nhiều sán. Ấu trùng di chuyển ngoằn ngoèo dưới da, đặc biệt di chuyển rất nhanh. Vừa thấy, bác sĩ chưa kịp rạch lấy ra thì nó đã chui sâu vào trong. Ấu trùng sán máng len lỏi đến tận các mao quản, bàng quang. Con cái sống trên cái máng của con đực. Trứng sinh ra, một số ở lại lân cận bộ phận sinh dục để trưởng thành, một số theo phân, nước tiểu ra ngoài được nước mưa đưa xuống cống ao hồ gây nhiễm cho các động vật thân mềm.
Ấu trùng giun chỉWulcheria bancroftitrong tuyến nước bọt của một số loại Culex, Aedes, Mansonia xâm nhập vào da người theo ống vòi của muỗi khi bị muỗi đốt. Khi vào máu, ấu trùng chuyển sang hệ bạch huyết để trưởng thành. Hệ bạch huyết bị viêm, tăng sinh tế bào nội bì, mô liên kết, mạch bạch huyết bị hẹp làm thoát dịch ra các mô xung quanh làm bìu và chân phù ra như chân voi. Giun chỉ đẻ ra phôi, phôi sẽ chết sau 8 tuần. Nhưng từ 20 giờ đến 3 giờ đêm, phôi di chuyển ra mạch máu ngoại biên, là giờ hoạt động của muỗi. Phôi theo vòi muỗi vào dạ dày, vào xoang đại thể biến thành ấu trùng để xâm nhập qua da người theo đường muỗi đốt.
Sán nonFasciolaký sinh ở gan, đi lạc chỗ chui ra ngoài da.
Ấu trùng Sparganumxâm nhập vào mắt ở một số vùng người dân giã thịt ếch đắp vào mứt.
Ruồi ngựa (trâu) đốt chích da người truyền sáng Loa - loa gây viêm kết mạc bao nhãn cầu.
Ruồi đen hoặc ruồi ngựa chích đốt da người truyền sáng Onchocera volvulus làm mù mắt.
Di trú dưới da
Ấu trùng đầu gaiGnathostoma spinigenumxâm nhập vào bộ máy tiêu hoá khi con người ăn thuỷ sản chưa nấu chín. Ấu trùng chui qua vách dạ dày đi khắp nơi và ra da tạo thành nhưng cục cứng màu hồng không đau. Ấu trùng không trưởng thành được và tạo thành kén.
Ấu trùng giun đầu gai ở người có nguồn gốc từ giun đầu gai Gnathostoma sp.sống ở vách dạ dày mèo, chó, chim... Trứng theo phân ra ngoài, nước mưa lôi phân xuống cống, ao, hồ... Trong môi trường nước, trứng nở thành ấu trùng I. Lăng quăng đỏ (Cyclops) ăn ấu trùng I. Trong dạ dày Cyclops, ấu trùng I chuyển thành ấu trùng II. Các loại thuỷ sản cá, rắn, ếch, nhái... ăn Cyclops. Trong dạ dày các loài thuỷ sản, ấu trùng giai đoạn II chuyển sang giai đoạn III. Người nhiễm ấu trùng Gnathostoma sp.khi ăn phải thuỷ sản nhiễm ấu trùng không nấu chín.
Sán dải heoTaenia solium,sán dải bò Taenia saginata.Heo, bò ăn phải trứng sán Taenia, trứng sán nở thành ấu trùng chui vào thịt heo bò cuộn mình trong bọc và ngủ yên ở đó. Người ăn thịt heo bò này chưa nấu chín, ấu trùng trong bọc sẽ hoạt động và trưởng thành trong ruột người. Trứng và các đốt sáng theo phân ra ngoài chứ không chui vào các bộ phận người như ở heo, bò. Tuy nhiên, một vài đốt sán bị trào ngược từ ruột lên dạ dày, dịch vị làm tan lớp vỏ phóng thích phôi. Phôi trở về ruột theo máu đi khắp nơi trong cơ thể và ra cả lớp dưới da.
Giun đũa mèoToxocana cati,giun đũa chó Toxocana caniský sinh trong ruột mèo chó. Trứng theo phân ra ngoài phát triển thành ấu trùng tồn tại trong nhiều tháng. Ấu trùng gây nhiễm thực phẩm của gia súc và người. Người có thể bị nhiễm khi ăn đồ lòng của gia súc bị nhiễm ấu trùng sán chưa nấu chín. Khi vào dạ dày người, dịch vị làm tan lớp vỏ bao bọc, ấu trùng chui ta xuyên ruột non vào máu, đi khắp nơi, chui dưới lớp da, nằm ở đó nhiều năm nhưng không trưởng thành. Một vài ấu trùng đi quá đà chui ra khỏi lớp da và di chuyển trên da.
Ấu trùng sán gạo ở heoCystericercus cellulosaenằm trong thịt heo bị nhiễm sán. người ăn phải thị heo bị nhiễm sán chưa nấu chín, ấu trùng sẽ đi lên não và chui dưới lớp da tạo thành kén nổi cục.
Tôm cua nhiễm ấu trùng Paragonimus ringeri, người ăn phải các tôm cua bị nhiễm chưa nấu chín, ấu trùng di chuyển và di trú dưới lớp da.
Do ăn tôm cua nhiễm sán Dracunculus medinensis, sán xâm nhập ống tiêu hoá, trưởng thành búi ở các mô liên kết dưới da. Một số chui qua lớp biểu bì tạo thành vết loét. Để bảo vệ làn da và sức khoẻ trước sự tàn phá của các loài giun sán đặc biệt này, chúng ta cần quan tâm đến vệ sinh lao động, thực phẩm và môi trường.








