Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 24/07/2008 23:48 (GMT+7)

Cuộc đọ sức và 3 người khổng lồ

Khoảng trước 1980, sữa và thịt trong khẩu phần thức ăn hàng ngày là đặc quyền của các nước khối hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và của một thiểu số người giàu ở nơi khác. Ở thời kỳ này, trừ các nước châu Mỹ La tinh và một số nước vùng cận động, mức tiêu thụ thịt trên đầu người ở các nước đang phát triển dưới 20 kg/năm, nhiều nước ở châu Phi và châu Á, thịt, sữa, trứng là thực phẩm xa xỉ, hoạ hoằn lắm mới được thưởng thức.

Ngoài việc cung cấp thực phẩm, chăn nuôi còn có chức năng khác như cung cấp sức kéo và phân bón, là tài sản trong gia đình chỉ đưa ra sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Chăn nuôi ở các nước phát triển phần lớn không phải ưu tiên dành cho sản xuất thực phẩm.

Thực trạng này đang thay đổi nhanh chóng. Mức tiêu thụ bình quân đầu người ở các nước đang phát triển đã tăng gấp đôi; từ 14 kg/người/năm năm 1980, đã tăng lên 29kgnăm 2002.

Tổng lượng thịt cung ứng trong thời gian đó đã tăng gấp 3, từ 47 triệu tấn tăng lên 139 triệu tấn. Sự phát triển trên diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhất là ở châu Á và dẫn đầu là Trung Quốc. Riêng Trung Quốc đã chiếm 57% lượng thịt tăng của các nước đang phát triển. Về sữa, sự phát triển không ngoạn mục bằng thịt, nhưng cũng đáng chú ý. Từ năm 1980 - 2002, tổng lượng sữa cung ứng ở các nước đang phát triển đã tăng 122%. Riêng Ấn Độ chiếm 40% tổng lượng tăng này. Đại bộ phận lượng sữa tăng đều do sản xuất tăng, sữa nhập khẩu chiếm một phần tương đối nhỏ. Đối với tất cả các nước đang phát triển lượng thịt nhập chỉ chiếm 0,5% và lượng sữa nhập là 14,5% nhu cầu.

Cái gì đã kích thích sự phát triển nhanh chóng nói trên

Mức tiêu dùng thịt, sữa liên quan chặt chẽ với thu nhập quốc dân và tầng lớp trung lưu mới đang tăng cùng với sự tăng trưởng nền kinh tế. Khẩu phần ăn của họ đa dạng hơn, tầng lớp dân chúng giàu chuyển thói quen ăn chủ yếu là lương thực sang cách ăn nhiều sản phẩm chăn nuôi cùng với rau, quả, đường và dầu mỡ. Quá trình này đang khuếch đại do dân số tăng. Đô thị hoá và đổi mới lối sống là những yếu tố khác liên quan đến thay đổi tập quán ăn uống. Thiếu động lực của tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân giải thích tại sao còn một số nước nhất là các nước vùng cận Saharacủa châu Phi còn chưa đi vào "pha thịt".

Xu thế đi lên đầy ấn tượng ở các nước đang phát triển tương phản rõ nét với xu thế ở các nước phát triển, nơi mà mức tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi tăng chậm hoặc ngưng trệ. Do dân số tăng chậm hoặc không tăng, nhiều nước khối hợp tác phát triển kình tế đã bước qua "pha thịt”, thị trường và dân chúng đây đã ở mức bão hoà. Nhiêu người tiêu dùng ở những nước này đang lo lắng về ảnh hưởng bệnh tật do dùng nhiều sản phẩm chăn nuôi, nhất là thịt đỏ, mỡ và trứng. Việc tiếp tục sử dụng nhiều những loạt sản phẩm này sẽ liên quan đến các bệnh về tim mạch và ung thư. Do một số bệnh liên quan đến tồn dư tháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, dioxin, E.coli, cúm gà, Salmonella, ngộ độc thực phẩm mà có lúc người ta tạm ngừng dùng sản phẩm chăn nuôi.

Thông thường, các nước đang phát triển trợ cấp với mức độ khác nhau cho người chăn nuôi, nhưng hiện nay đã bắt đầu giảm mức trợ cấp đó để giảm một số sản phẩm thừa,đặc biệt là ở các nước liên minh châu âu. Ở Liên minh châu Âu đang chuyển hướng sang trợ cấp thu nhập hơn là trợ cấp sản xuất. Khuynh hướng này đã góp phần làm tăng giá thị trường và việc bán hạ giásản phẩm thừa nhìn chung sẽ ít đi.

Úc và New Zeeland vẫn tiếp tục giữ vai trò là người xuất khẩu thịt bò thịt cừu và sữa, sản phẩm của họ chủ yếu xuất qua Nhật và vùng Cận đông nhưng họ cũng đang tăng cường thâm nhập thị trường khác nhờ dựa vào ưu thế có nhiều đồng cỏ.

Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu đã trải qua thời kỳ thay đổi cơ cấu sản xuất, sức mua của dân chùng giảm mạnh nên ngành chăn nuôi giảm sút nghiêm trọng. Sức mua của dân chúng đang phục hồi nhưng vì tiến độ khác nhau cho nên không phải lúc nào chăn nuôi trong nước cũng đáp được nhu cầu tăng của thị trường. Ví dụ, sản xuất thịt gia cầm ở Nga năm 2002 so với năm 1992 chỉ còn 35% (từ 1.428.000 tấn giảm còn 935.000 tấn) nên nhập khẩu 1.205.000 tấn. Năm 2002 Nga nhập khẩu 56% nhu cầu thịt gà.

Các nước Đông Âu đã qua một quá trình điều chỉnh để chuẩn bị cho việc gia nhập Liên minh châu Âu vào tháng 4 năm 2004. Các nước này bây giờ đã tham gia các thị trường hàng đầu của các thành viên liên minh châu Âu. Đối với các nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, vì đang tiến hành thay đổi cơ cấu nên dự kiến đến năm 2030 mới phục hồi được mức tiêu dùng năm 1990.

Ở các nước đang phát triển, sự kết hợp giữa tăng dân số với liên tục tăng thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tăng nhu cầu sản phẩm chăn nuôi, đó là điều kiện nảy sinh cuộc cách mạng ngành chăn nuôi, khởi đầu từ giữa những năm tám mươi.

Ba nước có nền kinh tế phát triển là Trung Quốc, Ấn Độ và Braxin có sản lượng thịt bằng 3/4 tổng sản lượng của các nước đang phát triển, còn sản lượng sữa của họ chiếm hơn 1/2. Mức tăng sản xuất 2 nhóm hàng trên của 3 nước này cũng bằng 3/4 mức tăng của tất cả các nước đang phát triển. Mặc dầu 3 nước này khác nhau về cấu trúc kinh tế và tất yếu có khác nhau về cơ cấu chăn nuôi nhưng có một điểm chung họ đều là những người khổng lồ. Ba nước khổng lồ này cũng đang nổi lên là những đấu thủ tầm cỡ trên thương trường chăn nuôi và sản phẩm chăn nuôi.

Trung Quốc là nước sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi nhiều nhất châu Á và thế giới. Trung Quốc cũng là nước sản xuất thịt lợn, thịt cừu và trứng hàng đầu thế giới. Mặc dầu mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi bình quân đầu người chưa bằng các nước phát triển nhưng cũng đã tăng nhanh nhờ kinh tế phát triển, thu nhập của người dân được cải thiện. Năm 2001 Trung Quốc gia nhập WTO, chăn nuôi quy mô nhỏ và đầu tư trang thiết bị kỹ thuật tương đối thấp nên nhu cầu sản phẩm chăn nuôi càng ngày càng tăng là cơ hội để thương mại thế giới tác động lớn đối với chế biến thức ăn và chăn nuôi Trung Quốc.

Ở Trung Quốc người dân thành phố tiêu dùng các loại protein động vật nhiều gấp đôi, gấp ba người dân nông thôn. Những thập kỷ qua, mức tiêu thụ bình quân đầu người về thịt tăng 5,6%, về sữa tăng 8% và về trứng tăng 8,1%. Mức tiêu thụ này còn tiếp tục tăng.

Thịt lợn ở Trung Quốc chiếm khoảng 66% tổng nhu cầu về thịt, mức tiêu thụ thịt lợn bình quân/người năm 1980 là 12kg, đến năm 2002 đã tăng lên đến 34,2kg. Ở Trung Quốc, trong cơ cấu sản phẩm thịt, thịt lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất; Mặc dù sản xuất và tiêu thụ đang giảm nhưng vẫn còn đứng ở mức 65,7%. Các chính sách của nhà nước không khuyến khích chăn nuôi gia đình mà ưu đãi những hoạt động sản xuất protein đông vật hiệu quả hơn. Cơ cấu chăn nuôi lợn của Trung Quốc đang thay đổi. Chăn nuôi lợn truyền thống dựa vào tận dụng phụ phế phẩm đang chuyển nhanh sang chăn nuôi thâm canh, tăng cường sử dụng thức ăn tinh, đang xuất hiện ngày càng nhiều các trang trại tư nhân chăn nuôi quy mô lớn. Trung Quốc vừa tự túc thịt lợn vừa xuất khẩu thịt lợn nhưng tỷ lệ xuất nhập khẩu thịt lợn chưa đến 1%.

Sản xuất thịt gà và trứng gà vẫn tăng mạnh, chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong cơ cấu sản phẩm chăn nuôi của Trung Quốc. Trung Quốc đang tiến dẫn đến hàng thứ 2 thế giới về sản xuất thịt gà, sau Mỹ. Do nhu cầu tăng, do thuận lợi của chính sách cải cách thị trường, Chính phủ ủng hộ những dự án chăn nuôi gia cầm chuyên môn hoá đã tạo đà tăng trưởng cho ngành sản xuất này. Mức tiêu thụ thịt gia cầm đã tăng hơn 2 lần, từ điểm xuất phát thấp, 3,9kg năm 1992 đã lên 10,0kg bình quân/người năm 2002. Chính sách của Trung Quốc là cố tự túc sản phẩm gia cầm vì nhu cầu nội địa lớn. Tuy vậy, gần đây mậu dịch gia cầm cũng đã tăng.

Thịt bò và thịt cừu chỉ chiếm một phần nhỏ nhưng gần đây mức tiêu dùng 2 loại thịt này cũng đã tăng. Mức tiêu thụ thịt bò tăng vì bùng phát chăn nuôi bò thịt do phát triển cơ giới hoá trước thời kỳ 90 dẫn đến giải phóng được một số lượng lớn trâu bò cày kéo; Cơ cấu đàn trâu bò cày kéo đang thay đổi theo hướng tăng đàn cái sinh sản. Kết quả là tỷ lệ tiêu dùng 2,2% năm 1980 đến năm 2002 đã tăng lên 9,0%. Trong thập kỷ vừa qua chăn nuôi bò tăng hơn 2 lần, mức tiêu dùng thịt bò tăng gấp 3. Ở vùng thâm canh cây lương thực, việc sử dụng phụ phẩm trồng trọt hiệu quả đã góp phần tăng tốc độ phát triển chăn nuôi bò. Sản lượng thịt cừu, dê tăng gấp đôi do phát triển chăn nuôi ở vùng sản xuất lương thực miền Đông Trung Quốc và do chính sách hỗ trợ của Chính phủ khuyến khích sử dụng có hiệu quả phụ phẩm trồng trọt.

Sữa chỉ chiếm tỷ lệ 3,4% trong tổng mức sử dụng protein động vật. Mức tiêu dùng sữa bình quân đầu người còn thấp, chỉ mới 11,0kg năm, gần đây mức tiêu dùng đã tăng gấp đôi. Sản lượng sữa đã tăng một cách ngoạn mục, từ 8,4 triệu tấn năm 1994, năm 2004 đã tăng lên 22,5 triệu tấn. Gần đây do gặp khó khăn về thức ăn tinh nên tốc độ tăng trưởng bị ảnh hưởng.

Cùng với gia tăng sản xuất và tiêu thụ thịt, sữa, trứng, nhu cầu thức ăn gia súc ở Trung Quốc đang tăng mạnh. Thiếu quỹ đất canh tác, khả năng tiếp tục phát triển chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sẽ bị hạn chế nếu Trung Quốc không nhập thức ăn gia súc. Kể từ gia nhập WTO năm 2001 Trung Quốc đã phải tăng cường nhập thức ăn gia súc để duy trì chăn nuôi lợn và chăn nuôi gà công nghiệp đang phát triển với tốc độ nhanh.

Sản xuất và nhập thức ăn gia súc đã tăng. Tổng số thức ăn gia súc nhập từ 0,8 triệu tấn làm 1993 thì đến năm 2003 đã tăng lên 1,2 triệu tấn. Người ta đang lo sự phát triển chăn nuôi của Trung Quốc sẽ làm cho giá thức ăn tăng đột biến và thế giới sẽ thiếu ngũ cốc.

Trung Quốc vẫn còn xuất nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc nhưng khối lượng đang giảm dần, thập niên vừa qua lượng xuất khẩu đã giảm 42%.

Các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Philippine đều có nền chăn nuôi phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn và gia cầm. Thái Lan đã có bước phát triển nhanh trong thập kỷ 90, xây dựng ngành chăn nuôi gia cầm phát đạt, trước dịch cúm năm 2003 Thái Lan đã là nước xuất khẩu gia cầm đứng hàng thứ 5 thế giới sau Mỹ, Braxin, Pháp và Hà Lan. Tuy nhiên dịch cúm gia cầm bùng phát năm 2004 - 2005 làm cho Thái Lan có nguy cơ mất uy thế xuất khẩu sản phẩm gia cầm chưa chế biến. Ở Phillppine ngành chăn nuôi phát triển mang dấu ấn của một ngành sản xuất nông nghiệp có bước đi chậm.

Trừ Thái Lan, phần lớn các nước Đông Nam Á phát triển chăn nuôi dựa vào nhập khẩu thức ăn gia súc, mức độ tự túc về thức ăn gia súc ngày càng giảm...

Nguồn: T/c Chăn nuôi, 4 - 2008, tr 46

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.