Cuộc đọ sức và 3 người khổng lồ
Khoảng trước 1980, sữa và thịt trong khẩu phần thức ăn hàng ngày là đặc quyền của các nước khối hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và của một thiểu số người giàu ở nơi khác. Ở thời kỳ này, trừ các nước châu Mỹ La tinh và một số nước vùng cận động, mức tiêu thụ thịt trên đầu người ở các nước đang phát triển dưới 20 kg/năm, nhiều nước ở châu Phi và châu Á, thịt, sữa, trứng là thực phẩm xa xỉ, hoạ hoằn lắm mới được thưởng thức.
Ngoài việc cung cấp thực phẩm, chăn nuôi còn có chức năng khác như cung cấp sức kéo và phân bón, là tài sản trong gia đình chỉ đưa ra sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Chăn nuôi ở các nước phát triển phần lớn không phải ưu tiên dành cho sản xuất thực phẩm.
![]() |
Tổng lượng thịt cung ứng trong thời gian đó đã tăng gấp 3, từ 47 triệu tấn tăng lên 139 triệu tấn. Sự phát triển trên diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhất là ở châu Á và dẫn đầu là Trung Quốc. Riêng Trung Quốc đã chiếm 57% lượng thịt tăng của các nước đang phát triển. Về sữa, sự phát triển không ngoạn mục bằng thịt, nhưng cũng đáng chú ý. Từ năm 1980 - 2002, tổng lượng sữa cung ứng ở các nước đang phát triển đã tăng 122%. Riêng Ấn Độ chiếm 40% tổng lượng tăng này. Đại bộ phận lượng sữa tăng đều do sản xuất tăng, sữa nhập khẩu chiếm một phần tương đối nhỏ. Đối với tất cả các nước đang phát triển lượng thịt nhập chỉ chiếm 0,5% và lượng sữa nhập là 14,5% nhu cầu.
Cái gì đã kích thích sự phát triển nhanh chóng nói trên
Mức tiêu dùng thịt, sữa liên quan chặt chẽ với thu nhập quốc dân và tầng lớp trung lưu mới đang tăng cùng với sự tăng trưởng nền kinh tế. Khẩu phần ăn của họ đa dạng hơn, tầng lớp dân chúng giàu chuyển thói quen ăn chủ yếu là lương thực sang cách ăn nhiều sản phẩm chăn nuôi cùng với rau, quả, đường và dầu mỡ. Quá trình này đang khuếch đại do dân số tăng. Đô thị hoá và đổi mới lối sống là những yếu tố khác liên quan đến thay đổi tập quán ăn uống. Thiếu động lực của tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân giải thích tại sao còn một số nước nhất là các nước vùng cận Saharacủa châu Phi còn chưa đi vào "pha thịt".
Xu thế đi lên đầy ấn tượng ở các nước đang phát triển tương phản rõ nét với xu thế ở các nước phát triển, nơi mà mức tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi tăng chậm hoặc ngưng trệ. Do dân số tăng chậm hoặc không tăng, nhiều nước khối hợp tác phát triển kình tế đã bước qua "pha thịt”, thị trường và dân chúng ởđây đã ở mức bão hoà. Nhiêu người tiêu dùng ở những nước này đang lo lắng về ảnh hưởng bệnh tật do dùng nhiều sản phẩm chăn nuôi, nhất là thịt đỏ, mỡ và trứng. Việc tiếp tục sử dụng nhiều những loạt sản phẩm này sẽ liên quan đến các bệnh về tim mạch và ung thư. Do một số bệnh liên quan đến tồn dư tháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, dioxin, E.coli, cúm gà, Salmonella, ngộ độc thực phẩm mà có lúc người ta tạm ngừng dùng sản phẩm chăn nuôi.
![]() |
Úc và New Zeeland vẫn tiếp tục giữ vai trò là người xuất khẩu thịt bò thịt cừu và sữa, sản phẩm của họ chủ yếu xuất qua Nhật và vùng Cận đông nhưng họ cũng đang tăng cường thâm nhập thị trường khác nhờ dựa vào ưu thế có nhiều đồng cỏ.
Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu đã trải qua thời kỳ thay đổi cơ cấu sản xuất, sức mua của dân chùng giảm mạnh nên ngành chăn nuôi giảm sút nghiêm trọng. Sức mua của dân chúng đang phục hồi nhưng vì tiến độ khác nhau cho nên không phải lúc nào chăn nuôi trong nước cũng đáp được nhu cầu tăng của thị trường. Ví dụ, sản xuất thịt gia cầm ở Nga năm 2002 so với năm 1992 chỉ còn 35% (từ 1.428.000 tấn giảm còn 935.000 tấn) nên nhập khẩu 1.205.000 tấn. Năm 2002 Nga nhập khẩu 56% nhu cầu thịt gà.
Các nước Đông Âu đã qua một quá trình điều chỉnh để chuẩn bị cho việc gia nhập Liên minh châu Âu vào tháng 4 năm 2004. Các nước này bây giờ đã tham gia các thị trường hàng đầu của các thành viên liên minh châu Âu. Đối với các nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, vì đang tiến hành thay đổi cơ cấu nên dự kiến đến năm 2030 mới phục hồi được mức tiêu dùng năm 1990.
Ở các nước đang phát triển, sự kết hợp giữa tăng dân số với liên tục tăng thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tăng nhu cầu sản phẩm chăn nuôi, đó là điều kiện nảy sinh cuộc cách mạng ngành chăn nuôi, khởi đầu từ giữa những năm tám mươi.
Ba nước có nền kinh tế phát triển là Trung Quốc, Ấn Độ và Braxin có sản lượng thịt bằng 3/4 tổng sản lượng của các nước đang phát triển, còn sản lượng sữa của họ chiếm hơn 1/2. Mức tăng sản xuất 2 nhóm hàng trên của 3 nước này cũng bằng 3/4 mức tăng của tất cả các nước đang phát triển. Mặc dầu 3 nước này khác nhau về cấu trúc kinh tế và tất yếu có khác nhau về cơ cấu chăn nuôi nhưng có một điểm chung họ đều là những người khổng lồ. Ba nước khổng lồ này cũng đang nổi lên là những đấu thủ tầm cỡ trên thương trường chăn nuôi và sản phẩm chăn nuôi.
Trung Quốc là nước sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi nhiều nhất châu Á và thế giới. Trung Quốc cũng là nước sản xuất thịt lợn, thịt cừu và trứng hàng đầu thế giới. Mặc dầu mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi bình quân đầu người chưa bằng các nước phát triển nhưng cũng đã tăng nhanh nhờ kinh tế phát triển, thu nhập của người dân được cải thiện. Năm 2001 Trung Quốc gia nhập WTO, chăn nuôi quy mô nhỏ và đầu tư trang thiết bị kỹ thuật tương đối thấp nên nhu cầu sản phẩm chăn nuôi càng ngày càng tăng là cơ hội để thương mại thế giới tác động lớn đối với chế biến thức ăn và chăn nuôi Trung Quốc.
Ở Trung Quốc người dân thành phố tiêu dùng các loại protein động vật nhiều gấp đôi, gấp ba người dân nông thôn. Những thập kỷ qua, mức tiêu thụ bình quân đầu người về thịt tăng 5,6%, về sữa tăng 8% và về trứng tăng 8,1%. Mức tiêu thụ này còn tiếp tục tăng.
Thịt lợn ở Trung Quốc chiếm khoảng 66% tổng nhu cầu về thịt, mức tiêu thụ thịt lợn bình quân/người năm 1980 là 12kg, đến năm 2002 đã tăng lên đến 34,2kg. Ở Trung Quốc, trong cơ cấu sản phẩm thịt, thịt lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất; Mặc dù sản xuất và tiêu thụ đang giảm nhưng vẫn còn đứng ở mức 65,7%. Các chính sách của nhà nước không khuyến khích chăn nuôi gia đình mà ưu đãi những hoạt động sản xuất protein đông vật hiệu quả hơn. Cơ cấu chăn nuôi lợn của Trung Quốc đang thay đổi. Chăn nuôi lợn truyền thống dựa vào tận dụng phụ phế phẩm đang chuyển nhanh sang chăn nuôi thâm canh, tăng cường sử dụng thức ăn tinh, đang xuất hiện ngày càng nhiều các trang trại tư nhân chăn nuôi quy mô lớn. Trung Quốc vừa tự túc thịt lợn vừa xuất khẩu thịt lợn nhưng tỷ lệ xuất nhập khẩu thịt lợn chưa đến 1%.
Sản xuất thịt gà và trứng gà vẫn tăng mạnh, chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong cơ cấu sản phẩm chăn nuôi của Trung Quốc. Trung Quốc đang tiến dẫn đến hàng thứ 2 thế giới về sản xuất thịt gà, sau Mỹ. Do nhu cầu tăng, do thuận lợi của chính sách cải cách thị trường, Chính phủ ủng hộ những dự án chăn nuôi gia cầm chuyên môn hoá đã tạo đà tăng trưởng cho ngành sản xuất này. Mức tiêu thụ thịt gia cầm đã tăng hơn 2 lần, từ điểm xuất phát thấp, 3,9kg năm 1992 đã lên 10,0kg bình quân/người năm 2002. Chính sách của Trung Quốc là cố tự túc sản phẩm gia cầm vì nhu cầu nội địa lớn. Tuy vậy, gần đây mậu dịch gia cầm cũng đã tăng.
Thịt bò và thịt cừu chỉ chiếm một phần nhỏ nhưng gần đây mức tiêu dùng 2 loại thịt này cũng đã tăng. Mức tiêu thụ thịt bò tăng vì bùng phát chăn nuôi bò thịt do phát triển cơ giới hoá trước thời kỳ 90 dẫn đến giải phóng được một số lượng lớn trâu bò cày kéo; Cơ cấu đàn trâu bò cày kéo đang thay đổi theo hướng tăng đàn cái sinh sản. Kết quả là tỷ lệ tiêu dùng 2,2% năm 1980 đến năm 2002 đã tăng lên 9,0%. Trong thập kỷ vừa qua chăn nuôi bò tăng hơn 2 lần, mức tiêu dùng thịt bò tăng gấp 3. Ở vùng thâm canh cây lương thực, việc sử dụng phụ phẩm trồng trọt hiệu quả đã góp phần tăng tốc độ phát triển chăn nuôi bò. Sản lượng thịt cừu, dê tăng gấp đôi do phát triển chăn nuôi ở vùng sản xuất lương thực miền Đông Trung Quốc và do chính sách hỗ trợ của Chính phủ khuyến khích sử dụng có hiệu quả phụ phẩm trồng trọt.
Sữa chỉ chiếm tỷ lệ 3,4% trong tổng mức sử dụng protein động vật. Mức tiêu dùng sữa bình quân đầu người còn thấp, chỉ mới 11,0kg năm, gần đây mức tiêu dùng đã tăng gấp đôi. Sản lượng sữa đã tăng một cách ngoạn mục, từ 8,4 triệu tấn năm 1994, năm 2004 đã tăng lên 22,5 triệu tấn. Gần đây do gặp khó khăn về thức ăn tinh nên tốc độ tăng trưởng bị ảnh hưởng.
Cùng với gia tăng sản xuất và tiêu thụ thịt, sữa, trứng, nhu cầu thức ăn gia súc ở Trung Quốc đang tăng mạnh. Thiếu quỹ đất canh tác, khả năng tiếp tục phát triển chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sẽ bị hạn chế nếu Trung Quốc không nhập thức ăn gia súc. Kể từ gia nhập WTO năm 2001 Trung Quốc đã phải tăng cường nhập thức ăn gia súc để duy trì chăn nuôi lợn và chăn nuôi gà công nghiệp đang phát triển với tốc độ nhanh.
Sản xuất và nhập thức ăn gia súc đã tăng. Tổng số thức ăn gia súc nhập từ 0,8 triệu tấn làm 1993 thì đến năm 2003 đã tăng lên 1,2 triệu tấn. Người ta đang lo sự phát triển chăn nuôi của Trung Quốc sẽ làm cho giá thức ăn tăng đột biến và thế giới sẽ thiếu ngũ cốc.
Trung Quốc vẫn còn xuất nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc nhưng khối lượng đang giảm dần, thập niên vừa qua lượng xuất khẩu đã giảm 42%.
Các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Philippine đều có nền chăn nuôi phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn và gia cầm. Thái Lan đã có bước phát triển nhanh trong thập kỷ 90, xây dựng ngành chăn nuôi gia cầm phát đạt, trước dịch cúm năm 2003 Thái Lan đã là nước xuất khẩu gia cầm đứng hàng thứ 5 thế giới sau Mỹ, Braxin, Pháp và Hà Lan. Tuy nhiên dịch cúm gia cầm bùng phát năm 2004 - 2005 làm cho Thái Lan có nguy cơ mất uy thế xuất khẩu sản phẩm gia cầm chưa chế biến. Ở Phillppine ngành chăn nuôi phát triển mang dấu ấn của một ngành sản xuất nông nghiệp có bước đi chậm.
Trừ Thái Lan, phần lớn các nước Đông Nam Á phát triển chăn nuôi dựa vào nhập khẩu thức ăn gia súc, mức độ tự túc về thức ăn gia súc ngày càng giảm...
Nguồn: T/c Chăn nuôi, 4 - 2008, tr 46










