Cuba trước cuộc bao vây cấm vận của Mỹ gần nửa thế kỷ qua
Hơn 70% người dân Cuba sinh ra và lớn lên đều chịu dưới sự bao vây và cấm vận của Mỹ. Hàng năm gây thiệt hại cho nền kinh tế Cuba ước tính khoảng 1.782 triệu đô la.
Năm 1992, Mỹ ra Luật Torreelli tăng cường bao vây, cấm vận ngoài lãnh thổ. Cấm những quan hệ thương mại của Cuba với chi nhánh của những công Mỹ đặt tại nước thứ ba. Công ty Dược Thuỵ Điển được mua bởi Công ty Amersham, công ty này chuyên cung cấp công nghệ và vật liệu cho trung tâm nghiên cứu khoa học về lĩnh vực công nghệ sinh học, trung tâm sản xuất và phát triển những biện pháp chẩn đoán và chữa bệnh như vacxin chống ung thư. Công ty Amersham sau đó được Công ty General Electric của Mỹ mua và công ty này đã ra thời hạn một tuần để đóng cửa văn phòng đại diện tại Cuba và chấm dứt mọi liên hệ với quốc đảo này.
Luật này còn quy định những tàu thuyền đã cặp cảng Cuba thì bắt buộc phải đợi ít nhất là 6 tháng mới có thể được vào cảng của Mỹ, và ngoài ra còn phải bị ghi vào “sổ đen”.
Năm 1996, Mỹ ra Luật Helms – Burton . Luật này đã biến tất cả những cấm đoán trước đây thành những điều khoản cụ thể, ngoài ra còn hạn chế sự đầu tư nước ngoài vào Cuba và đòi chính phủ Mỹ quyết định về chủ quyền của một số nước khác.
Bộ luật này còn quy định Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phải loại bỏ và trục xuất những cán bộ và lãnh đạo của những công ty vi phạm cấm vận chống Cuba , và bắt buộc Bộ trưởng phải lên danh sách những người “có thể bị loại bỏ”.
Tháng 4-2005, phủ nhận việc nhập cư vào Mỹ của một số lãnh đạo mới thuộc Công ty Sherritt Canadacùng gia đình họ bằng cách áp dụng Chương VI của Luật Helms – Burton .
Năm 2004, nhiều sự trừng phạt áp dụng đối với những hành động được coi là vi phạm luật cấm vận. Ảnh hưởng tới 27 công ty, ngân hàng và nhiều tổ chức phi chính phủ khác (ONGS). Tổng số lên tới 1 triệu 262 nghìn đô la. Trong đó có 14 doanh nghiệp nước ngoài, chi nhánh của các công ty của Mỹ tại nước thứ ba như Mexicô, Canada, Italia, Anh, Uruguay, Bahamas và đảo Auguila.
Ngày 30-6-2004 những biện pháp trong bản báo cáo mang tên gọi “Uỷ ban ủng hộ một Cuba tự do”, bắt đầu có hiệu lực, bản thông báo này được Bush thông qua vào ngày 6-5-2005 và hơn 805 những biện pháp đó đã được áp dụng.
Kế hoạch của Bush cho sự sát nhập nhằm mục đích chống phá cách mạng, dành được sự khôi phục của chủ nghĩa tư bản và tái thiết lập sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc đối với Cuba . Kế hoạch của Bush đối với sự sát nhập bao gồm những biện pháp: Bóp nghẹt nền kinh tế, đặc biệt về lĩnh vực phát triển du lịch và đầu tư. Hạn chế hơn nữa về mặt lưu thông tài chính và đi lại với Cuba. Gây khó khăn một cách vô lý trong quan hệ giữa những người Cuba sống tại Mỹ và gia đình của họ tại Cuba. Cản trở việc trao đổi văn hoá, hàn lâm, hoa học và thể thao giữa hai nước. Tạo điều kiện cho việc can thiệp bằng quân sự của Mỹ vào những vấn đề của Cuba để giúp việc sát nhập một cách dễ dàng hơn.
Ngày 30-9-2004 Kho bạc Nhà nước Mỹ đã quy định những công dân hoặc người định cư dài hạn tại Mỹ không được mua một cách hợp pháp những sản phẩm có nguồn gốc từ Cuba, bao gồm cả xì gà, rượu tại nước thứ ba, ngay cả những sản phẩm đó chỉ sử dụng mang tính chất cá nhân tại nước ngoài. Hình phạt đối với vi phạm quy định này có thể lên tới một triệu đô la tiền phạt đối với những công ty liên doanh, và 250 nghìn đô la đến 10 năm tù đối với công dân nói chung.
Cuộc bao vây cấm vận của Mỹ đã làm thiệt hại trực tiếp tới nhân dân Cuba, tính toán sơ bộ cho thấy con số đã vượt quá 82 tỉ đô la, và thiệt hại trung bình hàng năm là 1.782 triệu đô la. Con số này chưa tính đến 54 tỉ đô la về thiệt hại trực tiếp đối với những mục đích kinh tế, xã hội của đất nước, đối với sự phá hoại và hành động khủng bố được Chính phủ Mỹ khuyến khích, tổ chức và tài trợ. Ngoài ra chưa kể đến giá trị của những sản phẩm bị ngưng sản xuất hoặc thiệt hại từ những điều kiện tín dụng khó khăn mà chính phủ Mỹ áp dụng đối với Cuba. Sự thiệt hại trong năm nay đã vượt quá 2 tỉ 764 triệu đô la.
Trong nhiệm kỳ thứ hai, Bush vẫn tiếp tục leo thang lên mức chưa từng có trong chính sách xâm lược và bao vây cấm vận chống lại nhân dân Cuba. Với sự ngoan cố không tôn trọng những nguyên tắc đề ra trong Hiến chương Liên hiệp quốc và Luật quốc tế, quyền tự do thương mại và đi lại, cùng với mong muốn được cộng đồng quốc tế nhấn mạnh nhiều lần về việc chấm dứt chính sách huỷ diệt này; việc này đã được đề cập trong nhiều Nghị định được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua.
Việc áp dụng cuộc bao vây cấm vận của Mỹ đối với nhân dân Cuba còn ảnh hưởng đến quyền lợi và luật lệ của nhân dân Mỹ, cũng như nhiều nước trên thế giới. Sự bao vây cấm vận đó là một bộ phận cơ bản trong chính sách khủng bố của Mỹ, dưới hình thức bí mật, vô nhân đạo, có hệ thống và tàn nhẫn, làm ảnh hưởng đến nhân dân không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội.
Cả thế giới đều lên án cuộc bao vây, cấm vận của Mỹ đối với Cuba, họ cho đây là cuộc bao vây, cấm vận tàn nhẫn và lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại. Là một hành động của chiến tranh kinh tế. Là một phần cơ bản trong chính sách khủng bố của Mỹ. Được xếp vào loại như một hành động huỷ diệt. Có tính chất ngoài lãnh thổ.
Nhân dân Cuba anh hùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Cuba, đứng đầu là Chủ tịch Fidel Castro cùng với sự giúp đỡ của nhân dân các nước anh em và nhân dân tiến bộ toàn thế giới đã tuyên bố kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và quyền tự do quyết định của họ… Mặc dù bị Mỹ bao vây cấm vận nhưng một dân tộc anh hùng, một đất nước hiên ngang, nhân dân Cuba sẽ xây dựng thành công CNXH trên một đất nước ở Tây bán cầu.
Nhân dân Cuba sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ yêu cầu chính đáng về việc chấm dứt bao vây, cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính do Chính phủ Mỹ áp đặt chống nhân dân Cuba.








