Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 10/05/2006 23:23 (GMT+7)

Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và Công nghiệp: Triển khai nghiên cứu công nghệ khai thác than bằng sức nước

Mỏ than Nam Mẫu có trữ lượng khai thác than công nghiệp từ mức +125 đến +290 đã được khảo sát, đánh giá khoảng 29 triệu tấn. Phía trên (mặt đất) của mỏ than này là khu di tích Yên Tử, một danh lam thắng cảnh, một khu du lịch nổi tiếng của đất nước. Để khai thác được tài nguyên, làm giàu cho đất nước, đồng thời vẫn giữ được sự yên bình của một khu di tích nổi tiếng, Tổng công ty Than Việt Nam đã có dự định khai thác than mỏ Nam Mẫu, sẽ trình Chính phủ và công việc chỉ tiến hành khi được Nhà nước cho phép. Công nghệ khai thác than bằng sức nước đã được đầu tư nghiên cứu và sẽ là một trong những giải pháp công nghệ được xem xét để lựa chọn. Sau đây, xin giới thiệu đôi điều về công nghệ này qua các nghiên cứu của Công ty tư vấn đầu tư mỏ và Công nghiệp (IMCC).

Bản chất của công nghệ khai thác than bằng sức nước

Công nghệ khai thác than, thu hồi than trong nước và xử lý nước trong công nghệ khai thác than bằng sức nước có thể tóm tắt như sau:

Than nguyên khai, được khai thác bằng súng bắn nước từ các khu vực khai thác với một dộ dốc nhất định theo máng bằng kim loại tự chảy đến hố thu. Tại đây, than được tách ra khỏi nước bằng máng cào róc nước, thành 2 sản phẩm.

- Than có kích cỡ lớn hơn 1mm theo máng cào róc nước chuyển lên thùng chứa. Trên miệng thùng chứa có bố trí sàng để loại cục quá cỡ 300mm. Than có kích cỡ nhỏ hơn 300mm, từ thùng chứa chảy xuống băng tải để chuyển đi nhà máy tuyển.

- Than có kích cỡ nhỏ hơn 1mm từ hố thu theo nước chuyển vào hố bơm để bơm ra hệ thống thu hồi than và xử lý bùn nước.

- Hệ thống thu hồi than và xử lý bùn bước bao gồm bể cô đặc, hồ lắng bùn và bể lắng làm trong nước và trạm bơm cao áp để cung cấp nước trở lại cho các súng bắn nước.

Tình hình khai thác than bằng sức nước trên thế giới

Khai thác than bằng sức nước là phương thức khai thác mà ở đó các khâu công nghệ chính như khấu than, bốc xúc, vận chuyển trong lò đều được thực hiện bằng năng lượng của dòng nước.

Khai thác than bằng sức nước (KTBSN) hiện đang được áp dụng ở nhiều mỏ hầm lò của các nước như Nga, Ucraina, Trung Quốc, Ba Lan v.v... với xu hướng ngày một tăng và tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với các công nghệ kế hoạch truyền thống.

Ở Liên Xô cũ (vùng Cudơbát và Đônbát) thì sản lượng khai thác hàng năm khoảng 5 triệu tấn/năm, trong đó mỏ lubilâynaia đạt công suất 3 triệu tấn/năm.

Ở Trung Quốc, công nghệ khai thác than bằng sức nước được áp dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX, sản lượng khai thác bằng sức nước khoảng trên 10 triệu tấn/năm, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Liêu Ninh, Hà Bắc, Giang Tô, Sơn Đông...

Riêng vùng Bắc Phiêu (Liêu Ninh) thì sản lượng khai thác bằng sức nước chiếm hơn 50% sản lượng khai thác bằng sức nước của toàn Trung Quốc. Giá thành than KTBSN của vùng Bắc Phiêu vào khoảng 96-100 NDT/T.

Những ưu điểm chủ yếu của công nghệ khai thác bằng sưc nước

- An toàn lao động cao vì không đòi hỏi sự có mặt thường xuyên của con người trong gương khai thác.

- Hạn chế thấp nhất nguy hiểm về bệnh bụi phổi cho công nhân khai thác.

- Vốn đầu tư thấp hơn so với các công nghệ khác từ 10% đến 30%.

- Năng suất lao động của công nhân tăng gấp 1,5-2 lần trong cùng một điều kiện địa chất tương tự.

- Giá thành than khai thác thấp.

- Hệ thống khai thác và thiết bị khấu than có nhiều khả năng thích ứng hơn với các điều kiện địa chất thay đổi kể cả trong các trường hợp thay đổi phức tạp.

- Tiết diện các đường hầm lò chuẩn bị không đòi hỏi phải lớn và thiết bị bố trí trong đường lò đơn giản.

- Độ tin cậy của các thiết bị công nghệ đạt cao.

Các chỉ tiêu cơ bản của công nghệ KTTBSN của Trung Quốc

TT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Lò chợ thông thường

Lò chợ khai thác sức nước

Chênh lệch

1

Năng suất

Tấn/tháng

8.706

25.049

16.343

2

Hệ số khai thác

%

51

65

14

3

Mét lò chuẩn bị

m/1000T

52.5

14.7

-37.8

4

Năng suất lao động

Tấn/công

3.5

11.4

7.9

5

Tiêu hao điện năng

kWh/tấn

17

45.2

28.2

6

Giá thành phân xưởng

NDT/tấn

37.59

28.06

-9.53

Phạm vi ứng dụng của công nghệ khai thác bằng sức nước

KTBSN có thể áp dụng có hiệu quả trong các điều kiện địa chất mỏ khác nhau như:

- Chiều dầy vỉa than từ 07m-60m.

- Góc dốc vỉa than từ 5 ođến 90 o.

- Hê số kiên cố của than từ rất kiên cố đến rất mềm yếu, kể cả có tồn tại đá kẹp.

- Đá vách và trụ vỉa có độ bền vững khác nhau.

Như vậy, phạm vi áp dụng của công nghệ KTBSN là rất rộng và đặc biệt phát huy được hiệu quả cao hơn trong điều kiện các khoáng sàng than có điều kiện địa chất phức tạp, góc dốc lớn.

Khi khai thác than bằng sức nước, người ta có thể áp dụng hệ thống khai thác gương lò chợ ngắn hoặc dài, nhưng phổ biến nhất là gương lò chợ ngắn, tuy nhiên, các hệ thống khai thác bằng sức nước cũng có chung những đặc điểm sau:

- Công tác khấu than được thực hiện mà không cần chống giữ gương lò khai thác.

- Trong giới hạn khai thác của khu khai thác than được vận chuyển bằng phương pháp tự chảy theo nền của đường lò hoặc theo máng trượt bằng kim loại đặt trên nền lò.

Các súng bắn nước của Trung Quốc hiện nay đang áp dụng có áp suất làm việc là 12÷20 Pa, lưu lượng 180÷ -300 m 3/h, chiều dài bắn xa 15÷20m, đường kính đầu ra của súng là 20÷25mm

Đặc tính kỹ thuật của một số súng bắn nước của CHLB Nga

Số TT

Tên chỉ tiêu

Đơn vị

Loại máy

12GP-2

12GD-2

1

Năng suất khấu than f=0.5-1.0

T/h

70

30-40

2

Áp suất làm việc

Mpa

12

12

3

Lưu lượng nước

M 3/h

180 đến 400

180 đến 400

4

Đường kính đầu ra

mm

20, 22, 26, 28, 30

20, 28, 30,32

Một số nghiên cứu của Công ty Tư vấn đầu tư mỏ và Công nghiệp (IMCC) trong lĩnh vực công nghệ khai thác than bằng sức nước ở mỏ thanNamMẫu

Phương pháp khai thác than bằng sức nước là phương pháp khai thác có hiệu quả cần đầu tư nghiên cứu để có thể đưa vào áp dụng cho các mỏ than của ViệtNam. IMCC đã đầu tư nghiên cứu các tài liệu nước ngoài, đã cử đoàn cán bộ thiết kế đi tham quan và nghiên cứu chi tiết về công nghệ khai thác bằng sức nước tại một số mỏ và viện thiết kế của Trung Quốc để thực hiện việc chuyển giao công nghệ này vào một số mỏ than của TVN.

Sau khi nghiên cứu, IMCC đã triển khai lập BCNCKT áp dụng thử nghiệm cho mỏ Hà Giang Núi Khánh (Công ty Than Hạ Long) mỏ than Nam Mẫu T.V đến T.X (Công ty Than Uông Bí) và dự kiến sẽ triển khai áp dụng cho mỏ Bắc Cọc Sáu (Công ty Than Hòn gai), các vỉa dốc khu Nam và khu Đông Bắc mỏ Khe Tam (Công ty Than Dương Huy) v.v...

Mỏ than Nam Mẫu cách thị xã Uông Bí khỏng 25km về phía Tây Bắc, là vùng núi cao, rừng rậm, có độ cao trung bình 450m, vách núi dốc, có nhiều suối lớn, nhỏ chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua nhiều tầng chứa than và đổ vào sông Trung Lương với lưu lượng từ 66 đến 18.000 l/s.

Địa tầng là các dải trầm tích tuổi Trias dày từ 3.000÷4.000m, trên cùng là lớp phủ Đệ tứ, có chứa 9 vỉa than, trong đó có 8 vỉa có khả năng khai thác công nghiệp với tổng trữ lượng khoảng 36 triệu tấn.

Chất lượng than: Độ ẩm từ 3,13÷6,10%, trung bình 4.69%; Độ tro từ 5.75÷36.76% trung bình 16.4%; thuộc nhóm than có độ tro cao đến rất cao. Chất bốc từ 2.01 ÷ 9.95%, trung bình 3.92%; Lưu huỳnh từ 0.34÷6.76%, trung bình 1.45%, hàm lượng lưu huỳnh tăng dần từ V9÷V3 và tăng dần từ Đông sang Tây với mỗi vỉa. Nhiệt lượng (QK) từ 4.466÷8.027 kcal/kg, trung bình 6.815 kcal/kg.

Qua nghiên cứu tài liệu của nước ngoài, đặc biệt là sau chuyến đi học tập khảo sát tại Trung Quốc, Công ty Tư vấn Đầu tư Mỏ và Công nghiệp đã xem xét khu vực rộng 5,2 km 2thuộc vùng hạn chế hoạt động khai thác khoáng sản tại khu vực Yên Tử và nhận thấy, khu vực này có thể áp dụng công nghệ khai thác than bằng sức nước, nhằm bảo vệ khu di tích Yên Tử cũng như tăng sản lượng than cho ngành.

Qua đánh giá sơ bộ tại khu vực Yên Tử, Công ty nhận thấy có thể áp dụng hệ thống khai thác lò dọc vỉa phân tầng dưới dàn dẻo, khấu than bằng các loại súng bắn nước của Trung Quốc. Than sau khi tách khỏi vỉa được vận tải theo hệ thống máng có độ dốc 7-8% tập trung ở chân lò thượng, tách nước và vận tải ra ngoài bằng goòng, còn bùn than được bơm ra ngoài mặt bằng sau khi xử lý nước trong được đưa lại bể tuần hoàn.

Việc áp dụng công nghệ khai thác than bằng sức nước tại khu vực Yên Tử cho phép khai thác các vỉa than có chiều dầy và góc dốc thay đổi, nếu dùng các công nghệ khai thác khác sẽ có nhiều hạn chế, đây là ưu điểm chính của công nghệ khai thác bằng sức nước. Theo tính toán sơ bộ, với chiều dầy vỉa trung bình 4m, chiều cao nghiêng của phân tầng 8.5m, chiều rộng dải khấu  5m, thì sản lượng than khai thác từ một súng bắn nước là 715-825 T/ngày đêm tùy theo chế độ làm việc 3 ca hay 4 ca. Để đạt được sản lượng này, số mét lò cần đào cho 1 ngày đêm là 22-25m, do vậy nếu tính cả than đào lò thì mỗi khu khai thác sẽ đạt được 907-1000 T/ngày đêm. Mặc dù có ưu điểm là năng suất lao động cao, nhưng điều kiện hạn chế của công nghệ này là khối lượng đào lò chuẩn bị lớn, độ ẩm làm việc cao, lượng nước lớn nên việc xử lý nước than phải được đầu tư hết sức công phu.

Lượng nước cần thiết cho việc khai thác 1 tấn than bằng công nghệ này dao động từ 3-6 m 3/tấn. Qua tìm hiểu tài liệu cũng như khảo sát tại Trung Quốc, với độ sâu khai thác tại khu vực Yên Tử, thì độ sút lún bề mặt do khai thác bằng sức nước cũng không vượt quá độ sụt lún bằng các công nghệ khai thác gương lò ngắn khác.

Với những lý do trên, nhằm bảo vệ cảnh quan  môi trường 5,2 km 2khu vực Than Thùng – Yên Tử và tăng sản lượng than khai thác tại đây, cần thiết phải hợp tác với các nước có ngành khai thác than bằng sức nước phát triển như Liên bang Nga, Trung Quốc... để lập một dự án áp dụng thử nghiệm công nghệ này tại vùng than Yên Tử TI÷TX, có trữ lượng khá lớn từ mức +125 lên lộ vỉa khoảng 70 TrT. Từ tuyến I đến tuyến V mỏ Than Nam Mẫu Công ty Uông Bí đang khai thác với công suất thiết kế 900 ngàn T/năm, trữ lượng địa chất từ +125 ÷ +290 trong phạm vi từ TV÷TX khoảng 29 TrT. Để tận dụng tài nguyên đã được thăm dò và khai thác như đã nêu ở trên, mỏ than Nam Mẫu đã có cơ sở hạ tầng như hệ thống đường điện, đường giao thông đảm bảo sản xuất của mỏ ổn định, do đó, việc chuẩn bị diện khai thác cho các năm sau trong giới hạn TV÷TX là cần thiết và cấp bách, nên việc đưa vào áp dụng công nghệ khai thác hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cho ngành Than rất lớn. Vì vậy, phương án áp dụng công nghệ khai thác than bằng sức nước là cơ sở cho Tổng công ty Than Việt Nam xem xét quyết định việc chuẩn bị đầu tư khai thác than ở khu vực này.

Nguồn: TCC,/www.moi.gov.vn/kh-cn-mt,14/11/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.
VUSTA kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập, đánh dấu một hành trình kiến tạo và cống hiến bền bỉ
Chiều ngày 26/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm và chuỗi các hoạt động đặc biệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập (26/3/1983 - 26/3/2026). Sự kiện là dấu mốc ý nghĩa ghi dấu hành trình hơn bốn thập kỷ kiến tạo và cống hiến của VUSTA – ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam.
Bí thư Đảng uỷ VUSTA Châu Văn Minh thăm và làm việc với Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)
Chiều ngày 25/3, GS.VS. Châu Văn Minh – Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) dẫn đầu đoàn công tác đã đến thăm và làm việc với ban lãnh đạo cùng đội ngũ cán bộ, người lao động của Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC).