Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 09/07/2010 17:28 (GMT+7)

Công trình thuỷ lợi ở Bắc kỳ thời Pháp thuộc

Ở các vùng có nhiều đồi mà lòng sông lại thấp so với mặt ruộng, không cho phép lấy nước trực tiếp và cũng không thể dùng máy bơm thì buộc phải xây đập ngăn nước lợi dụng thế đất dốc đưa nước bằng trọng lực vào ruộng. Một số công trình thuỷ lợi được xây dựng phù hợp với địa hình và nguồn nước kiểu này ở Bắc kỳ phải kể đến công trình đập trữ nước và hệ thống dẫn nước bằng trọng lực ở Kép (Bắc Giang), Vĩnh yên, Sông Cầu (Bắc Giang) và hệ thống nông giang ở Sơn Tây mà người Pháp đã xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XX nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Tưới nước bằng trọng lực

Hệ thống ở Kép (tỉnh Bắc Giang)

Mạng lưới kênh dẫn nước tưới cho đồng ruộng ở Kép thuộc tỉnh Bắc Giang là công trình đầu tiên được thực hiện ở Bắc kỳ, khởi công năm 1902 và kết thúc năm 1908.

Hệ thống này cung cấp nước cho 7.700 ha thuộc tỉnh Bắc Giang lấy từ nước sông Thương lên qua một đập tràn ở Cầu Sơn, dài 70m, cao 8m xây bằng gạch, rồi qua một kênh dẫn nước vào chân ruộng. Con kênh này khá độc đáo, dài 7 km qua các triền đồi thấp, cách nhau bằng những thung lũng nhỏ có dê ngăn nước lũ sông Thương. Ở hạ lưu trước khi vào vành đai khu vực được tưới, nước sông mùa lũ lên cao tự chảy vào các đường mương dẫn ruộng rồi từ đó chảy ra sông Thương. Hệ thống này có 2 công trình lấy nước, một ở đầu kênh, có vách xây cao để ngăn không cho nước tràn vào quá nhiều khi nước lũ lên cao và một công trình nữa bên dưới chỗ đầu kênh chia nước về các mương.

Hệ thống phân phối gồm một kênh chính có tổng chiều dài là 33km không kể 46km đường mương lớn với khoảng 300 km đường mương nhỏ. Các công trình này được khởi công từ năm 1902, hoàn thành năm 1908 nhưng việc xây các con mương nhỏ kéo dài đến năm 1913 mới xong, đến năm sau 1914 mới được sử dụng đưa nước về chân ruộng.

Ngay từ đầu, người ta đã ước tính các diện tích đất biến thành ruộng lúa thì tiền lãi thu về sẽ là 66 đồng/ ha một năm tức ¾ tổng chi phí xây dựng toàn bộ hệ thống. Nhận xét này sẽ khuyến khích việc tiếp tục làm các công trình đưa nước vào ruộng đối với các vùng đất tương tự và đã đưa đến quyết định việc xây dựng hệ thống Vĩnh Yên.

Hệ thống ở Vĩnh Yên

Dự án công trình kênh mương tưới ở Vĩnh Yên được thông qua ngày 26 – 12 – 1913. Khởi công năm 1914, kết thúc năm 1922 và khánh thành tháng 2 – 1923.

Hệ thống này bảo đảm tưới nước được cho 17.000 ha bằng cách sử dụng nước của chi lưu sông Lô tức là sông Phó Đáy. Trên sông, người ta xây dựng một đập nước Liên Sơn dài 100 m. Công trình này có dạng giống như đập Cầu Sơn ở Kép, người ta đã làm ở trên một chiếc cầu - đường bằng xi măng cốt sắt nối hai bên bờ đập từ 15 năm nay. Sau lần xói lở ở móng đập vào năm 1943 – 1944, người ta đã gia cố bằng cách tạo thêm một mặt hình cong để đảm bảo cho nước tràn qua được dễ dàng.

Hệ thống kênh chính được xây bên tả ngạn sông Phó Đáy đi qua 5 cửa với tổng chiều dài 50 km, đưa nước vào 12 kênh phụ trải dài trên 109 km, còn bên hữu ngạn có trên 500 km mương nữa cung cấp nước cho 1.000 h. Con kênh chính có khoảng “thông” để truyền trọng tải 3 – 5 tấn có thể về tới Việt Trif để ngược sông Lô.

Công trình hệ thống nông giang Vĩnh Yên bắt đầu xây dựng năm 1914 kết thúc vào năm 1922.

Theo yêu cầu của nhân dân Phúc Yên đã nối dài hệ thống kênh mương bên kia sông Cà Lồ trên cánh đồng Yên Lãng. Tại đây kể từ năm 1938 nước đã được đưa vào đồng ruộng trên một diện tích phụ rộng khoảng 3.300 ha.

Hệ thống ở sông Cầu (tỉnh Bắc Giang)

Dự án kênh dẫn nước tưới Sông Cầu được phê duyệt ngày 27 – 12 – 1921. Công trình được khởi công cuối năm 1922. Mạng lưới nông giang sông Cầu lúc đầu có dự kiến phát triển đến 200 km, với 7 nhánh lớn và 12 nhánh rẽ nhỏ. Một nhánh phụ đã đào năm 1944 bên tả ngạn. Tổng chiều dài các mương dẫn nước lên tới 800 km. Các nhánh lớn được khởi công năm 1929 khi đã xong kênh chính và đến 1935 mới xong hệ thống kênh mương bên bờ hữu ngạn.

Đây cũng là một hệ thống dẫn nước bằng trọng lực được xây dựng lớn nhất ở Bắc kỳ, cung cấp cho 28.000 ha ruộng thuộc 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang.

Nước sông Cầu sẽ đưa lên cao theo mức nước mong muốn ở đập tràn Thác Huống. Công trình này dài 100 m giống như công trình Liên Sơn có một cầu - bằng đường bê tông cốt thép cho phép nối liền 2 trung tâm Thái Nguyên và Phủ Lạng Thương bằng cách sử dụng con đường kéo thuyền dọc theo bờ kênh chính. Chúng tôi xin nhắc lại con kênh chính này dài 52km đã được quy hoạch để thuyền tải trọng lớn có thể đi lại giữa sông Thương và sông Cầu. Đập có một khoảng thông để thuyền vẫn đi lại trên sông như trước. Trên 17km đầu của kênh chỉ dùng cho thuyền bè đi lại. Công trình lấy nước gồm 10 cửa rộng 1,30m. Trên thượng lưu có một cống cao dẫn, có những cánh cửa chồng lên nhau để ngăn nước sông Cầu vào mùa lũ. Mặt cắt của đập Thác Huống đã được chỉnh lại giống như đập Liên Sơn để chống xói lở ở móng đập do tác động của nước lũ.

Ngoài các đập và các âu thuyền kể trên, trong nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng trên mạng lưới cần phải kể đến máng nước chỉnh trị Văn Gia, nó có nhiệm vụ tạo một dòng suối lớn chảy vào kênh chính. Máng chỉnh trị được cấu tạo 5 máng nước có dạng hình trụ bằng bê tông cốt thép đặt kề nhau và có đường kính là 2,3 m. Đáy của kênh chính nằm cách lưng vòm khoảng 6 m được tạo bằng một lớp đất đặc biệt nhào trộn cẩn thận. Đặc biệt, có 6 thanh xà bê tông, mỗi thanh dài 25m làm cầu vắt ngang. Có để một khoảng trống dành cho tàu thuyền qua lại được.

Tưới nước bằng hệ thống bơm

Hệ thống bơm nước ở Sơn Tây

Trong bài viết này, chúng tôi không viết về các phương pháp lấy nước thủ công, hay bơm nước sông có công suất nhỏ mà người dân nơi đây đã áp dụng đáng được khuyến khích, mà chỉ nói kỹ về hệ thống dẫn nước bằng hệ thống bơm có công suất lớn được xây dựng ở Sơn Tây, cách Hà Nội khoảng 30 km về thượng lưu do chính quyền và ngành kỹ nghệ Pháp đảm nhiệm.

Hệ thống bơm nước Sơn Tây được xây dựng trong dự kiến đủ đảm bảo tưới nước cho trên 10.000 ha ruộng cấy lúa chiêm vào tháng 5 và đặc biệt cho cả lúa mùa vào những năm hạn hán. Về nguyên tắc, trong những điều kiện đó việc bơm nước theo tính toán chỉ có thể tiến hành từ tháng 12 đến thang 4 là lúc nhu cầu về nước tưới ruộng bị hạn chế. Vì vậy, hệ số tưới phải đạt là 0,60 lít/ 1 giây/ 1 ha là một con số nhỏ hơn mức 1 lít/ 1 giây/ 1 ha so với các hệ thống thuỷ lợi khác.

Xuất phát từ dữ liệu đó, lưu lượng nước phải đưa về được ấn định mỗi giây phải lấy được 8m3 nước nhờ lắp 3 máy bơm ly tâm trục thẳng đứng kiểu Limax chạy bằng động cơ điện do đường dây cao thế 3.000 V của Công ty Điện lực Đông Dương (1).

Trạm bơm được đặt sát bờ sông Hồng, gần làng Phù Xa, phía sau đê chính ngăn nước lũ sông Hồng. Người ta làm thêm một đê quai bầu nối với đê chính nhờ đó có thể bảo vệ trạm bơm trong mùa lũ lụt.

Nước được lấy ngay ở chân bờ sông từ một giếng sâu 12 m kết cấu đáy kéo dài đến tận bên trong của tầng hầm dưới trạm bơm. Đường dẫn nước từ giếng vào có thể ngăn lại bằng hệ thống van kim loại, công việc thao tác van có thể tiến hành trên mặt bằng trạm bơm, ngang với mặt đê. Để tránh việc kéo theo các chất thải rắn lẫn trong nước, cửa lấy nước có lắp các lưới sắt mỗi mắt lưới rộng 4cm.

Đường dẫn nước, dài 50 m, từ giếng vào tầng hầm trước khi đưa lên máy bơm phải đi qua mỗi bể hình chữ nhật dài 4m rộng 2,20m. Kết cấu đáy ở dưới nền nhà đặt máy là 9,5m và dưới 5,5m chỗ đặt bơm, hoàn toàn bằng bê tông cốt thép. Một đầu nối với một bể chứa bằng nhiều cửa có lắp van khoá mở.

Toà nhà để máy bơm có gian liền kề nhau có bộ sườn kim loại lợp ngói, ngoài ra còn có 2 tầng ngầm chồng lên nhau được ngăn kín bằng bê tông. Tầng trên đặt động cơ, hai tầng âm dưới đất làm bể chứa nối liền với kênh đưa nước từ sông vào qua các vòi hút của các máy bơm. Các máy bơm đặt ở tầng trên, sàn nhà là trần của bể chứa. Buồng đặt động cơ là tầng trên của hầm ngầm.

Hệ thống đường ống đi từ các máy bơm đến kênh dẫn nước đặt cách máy bơm một quãng và từ đây đưa nước vào kênh chính. Nền đất xây trạm bơm là loại đất yếu do pha cát phù sa sông Hồng nên phải có cách xử lý móng bằng khí nén khi xây dựng công trình kể cả việc xây kênh đưa nước từ ngoài sông vào bể chứa lẫn các gian hầm ngầm. Người ta làm các hòm nén khí (két xon) bằng bê tông cốt sắt. Công việc khó khăn và phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhất là khi đưa két xon chính dài 22,6m, rộng 12,5m xuống đất, đúng vào lúc mùa lũ đang lên cao (tháng 7 đến tháng 8 – 1929, lúc này mực nước sông Hồng đo được tại Hà Nội là 11,42m).

Để xây dựng trạm bơm này (thường gọi là trạm bơm Phù Xa), người ta phải sử dụng 1.900m khối bê tông cốt thép, trong đó có 330.000 kg thép, không kể bị nước cuốn trôi một khối lượng tương đối lớn. Công trình bắt đầu làm từ năm 1927 đến tháng 3 – 1931 mới hoàn thành.

Các cánh đồng được trạm bơm Phù Xa và hệ thống kênh mơng cung cấp nước không lớn lắm, giới hạn về phía tây là sông Tích (còn gọi là sông Con), về phía bắc và đông là sông Hồng và sông Đáy. Hệ thống kênh mương gồm kênh chính đi vào giữa vùng dài 26km, có 6 kênh nhánh dài 37 km và cuối cùng có 28km đường mương đưa nước về các chân ruộng. Toàn bộ các hệ thống kênh, mương này được khởi công tháng 5 – 1929 đến đầu năm 1932 mới xong (2).

Công việc mở rộng hệ thống kênh mương đến 1939 mới hoàn thành, thêm 670 ha được tưới.

Chú thích:

1/ Thoạt đầu là dùng 3 động cơ diesel, mỗi động cơ 350 mã lực, sau đó, trạm bơm Phù Xa được vận hành bằng điện, nên 3 động cơ nói trên cùng với 1 động cơ 250 mã lực được đưa đi nơi khác. Thay vào đó là các động cơ chạy bằng điện và công suất dôi ra còn dùng vào việc thắp sáng cho thị xã Sơn Tây.

2/ Trong sáchi Travaux publics de l’Indochine củaA.A Pouyanne, 1926, tr 111, ghi: Trạm bơm Sơn Tây được xây dựng cùng với nhà máy điện để cấp điện cho Sơn Tây, tiến hành đấu thầu năm 1925. Công trình khởi công ngay năm 1926.

Tài liệu tham khảo:

1/ L’Indochine au travail dans la paix francaise, Julien Gauthier (Ingnénieur principal des Travaux publics de l’indochine), Paris, éd, EYROLLES, 1949.

2/ Travaux publics de l’indochine, A.A Pouyanne, Paris, 1926.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.