Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 29/07/2014 15:55 (GMT+7)

Công hàm 1958 với vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Vậy thực chất của sự việc này ra sao ?

Trước hết, xin được đăng lại nguyên văn Công hàm ngày 14/9/1958 mà Thủ tướng  Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chính phủ Trung Quốc Chu Ân Lai:

“Thưa đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. 

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Phía Trung Quốc tự lý giải rằng, ngày 4/9/1958 Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố quyết định của Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Và như vậy - vẫn theo họ - Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng với nội dung như trên, cũng có nghĩa là đã công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc (!).

Nhưng, khi xem xét toàn bộ thực tế bối cảnh thế giới và khu vực lúc bấy giờ và trên cơ sở luật pháp quốc tế thì có thể nhận thấy rằng, lý giải của Trung Quốc là phi lý và chỉ là sự biện bạch mang tính xuyên tạc nhằm che đậy cho mưu đồ bành trướng của họ.

Cần thấy rằng, trong thập kỷ 50 của thế kỷ XX, tình hình trong khu vực châu Á có những diến biến phức tạp; đặc biệt là tình hình căng thẳng xung quanh eo biển Đài Loan khi Mỹ công khai bảo hộ Đài Loan bất chấp sự phản đối kịch liệt của Trung Quốc. Vấn đề chủ quyền trên biển của các quốc gia, cũng đã xuất hiện những nhu cầu cần được giải quyết trên phạm vi toàn cầu. Vì vậy, năm 1956 Liên Hợp Quốc đã bắt đầu tiến hành tổ chức các Hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển. Cho đến năm 1958 thì một số Hiệp định đã được ký kết, nhưng chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số nước. Trong đó có Trung Quốc với tham vọng ngày một rõ hơn.

Quyết định về lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc do Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố ngày 4/9/1958 là phản ánh thực tế đó. Mặt khác, thời gian đó quan hệ giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa và Trung Quốc “vừa là đồng chí vừa là anh em”; về mặt chính trị Việt Nam nên có tiếng nói ủng hộ về tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước những diễn biến quân sự căng thẳng tại eo biển Đài Loan (tình hình cụ thể lúc đó là: Chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan trực tiếp đe dọa Trung Quốc). Và, việc Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Trung Quốc với nội dung như đã nêu ở trên, như là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp nhằm ủng hộ việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý như Trung Quốc đưa ra, không hơn không kém.

Vì thế mà trong Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chỉ có hai nội dung rất rõ ràng:  Một là, Chính phủ Việt Nam dân chủ công hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Tuyệt nhiên trong Công hàm không có một từ, một chữ nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, càng không nêu tên bất kỳ một quần đảo nào như Trung Quốc đưa ra, nghĩa là không có chuyện  từ bỏ lãnh thổ ở đây. Sở dĩ Công hàm không cần nhắc tới quyền chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần  đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bởi hai lý do: Thứ nhất, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã và vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam từ xa xưa đến nay, điều đó là hiển nhiên mà Việt Nam không bao giờ từ bỏ. Hơn nữa, chỉ có Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất mới có quyền tuyên bố về chủ quyền quốc gia chứ không phải là Thủ tướng Chính phủ. Thứ hai, theo Hiệp định Geneve 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nằm phía dưới vĩ tuyến 17,  thuộc quyền quản lý của Chính quyền Việt Nam cộng hòa khi đó. Xét theo luật quốc tế thì tại thời điểm đó, Việt Nam dân chủ cộng hòa không có nghĩa vụ và quyền hạn thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này (mà do Chính phủ Việt Nam cộng hòa thực hiện). Và như vậy, Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế. Nói cụ thể hơn, trong bối cảnh quan hệ hữu nghị giữa hai nước lúc đó, Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định lập trường ghi nhận và tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc (sau này đã được Công ước Luật Biển 1982 của LHQ công nhận đối với tất cả các quốc gia ven biển). Còn những nội dung cụ thể khác diễn giải vượt quá chủ quyền phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc theo Luật pháp quốc tế, đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó.

Từ thực tế và những cơ sở nêu trên, việc Trung Quốc cố tình viện cớ và dẫn giải sai lệch Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhằm tạo cớ tuyên bố chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn phi lý, không có hiệu lực và không có cơ sở pháp lý quốc tế.

Thiết nghĩ, Trung Quốc thừa hiểu thực chất được nêu trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Và, ở Trung Quốc cũng không thiếu những trí thức, những luật sư, những nhà hoạt động xã hội đủ trình độ để hiểu và phân tích một cách đúng đắn, đúng luật bản Công hàm đó. Song, do bị tư tưởng bành trướng, tư tưởng Đại Hán làm mờ mắt nên Trung Quốc đã cố tình diễn giải sai Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhằm biện minh cho mưu đồ chiếm đoạt lãnh thổ của quốc gia khác cho mình. Điều đó là không thể chấp nhận được.

“Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là văn bản ngoại giao, nó có giá trị pháp lý về những vấn đề được nêu trong nội dung, đó là Việt Nam tôn trọng 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Công thư không đề cập chủ quyền lãnh thổ, vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa nên đương nhiên nó không có giá trị pháp lý trong vấn đề chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa. Thứ hai, giá trị công thư cũng phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công thư gửi cho Trung Quốc trong bối cảnh Hoàng Sa, Trường Sa đang thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa theo Hiệp định Genève 1954 mà Trung Quốc có tham gia. Do đó, tôi xin nói logic thông thường là bạn không thể cho người khác cái gì khi bạn chưa có được (cái đó)”.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia Trần Duy Hải
 
“Cần phải đọc công hàm này rất kỹ, nhất là tuyên bố của ngài Phạm Văn Đồng, bởi vì nó chỉ nhắc đến việc mở rộng lãnh hải của Trung Quốc chứ không hề nhắc đến Hoàng Sa hay Trường Sa”.
Giáo sư Luật Erik Franckx Đại học Tự do Brussel, Bỉ
Thành viên của Tòa trọng tài thường trực (PCA)

 
Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc nhưng không có sự khẳng định công nhận yêu sách của Trung Quốc với hai quần đảo.”
Giáo sư Monique Chemillier - Gendreau
Nguyên Chủ tịch Hội luật gia Dân chủ thế giới
    

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.