Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 29/01/2008 00:04 (GMT+7)

Cồng chiêng - Một bộ phận của nền văn hoá đương đại

Kết quả của đợt sưu tầm này đã được công bố trong cuốn Kỷ yếu Giữ gìn, phát huy vốn văn hoá truyền thống của dân tộcTy Văn hoá - Thông tin tỉnh Gia Lai - Kon Tum xuất bản năm 1981 (1). Trong cuốn Kỷ yếu này nhạc sỹ Rơ Chom Dơn thông báo một số thông tin về tên gọi, về chức năng, về biên chế, về cách đánh, cách “lên dây”, về thành phần dàn chiêng... Cũng trong năm 1981, công trình “Fônclo Bâhbar” được hoàn thành nhưng mãi đến năm 1988 mới xuất bản (2). Trong công trình đã có một phần viết khá kỹ về chiêng cồng của dân tộc Bâhnar, ngành T’Lô ở An Khê. Đến năm 1985, nhân kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam, Ty Văn hoá - Thông tin tỉnh Gia Lai - Kon Tum cùng với Viện Nghiên cứu âm nhạc tổ chức kỷ yếu hội thảo này, hầu như những hiểu biết cơ bản về giá trị văn hoá và nghệ thuật của cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng và của các dân tộc Việt Nam nói chung đều đã được đề cập đến với các cấp độ nông sâu khác nhau (3). Sau đó rải rác có những bài viết hay cuốn sách viết về âm nhạc hay nhạc cụ các dân tộc Tây Nguyên cũng nhắc đến cồng chiêng nhưng không thêm được thông tin gì nhiều, ngoài các bản nhạc phổ hoá cồng chiêng của Bùi Trọng Hiền thực hiện trong chuyến đi lấy tư liệu bổ sung cho hồ sơ vào năm 2004.

Những thành tựu tìm hiểu, nghiên cứu về cồng chiêng Tây Nguyên nói trên đã được hợp vào hồ sơ trình UNESCO (4) và đem lại kết quả là Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại vào năm 2005. Từ đó đến nay, cồng chiêng Tây Nguyên được các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, được các nhà khoa học và toàn dân quan tâm nhiều hơn với những biện pháp thiết thực. Ngay trong năm nay, với sự giúp đỡ của Cục Di sản, Bộ Văn hoá Thông tin và UNESCO, tỉnh Đắc Nông cũng đã tổ chức thí điểm việc truyền dạy cồng chiêng cổ truyền. Trường Đại học Tây Nguyên cũng tổ chức trao đổi về cồng chiêng. Những ngày cuối tháng mười vừa qua Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch đã tổ chức trình diễn phương pháp chỉnh cao độ của cồng chiêng kết hợp với việc biểu diễn của một số đội.

Sở dĩ trên đây tôi phải trình bày hơi dài dòng về quá trình nghiên cứu cồng chiêng để trả lời câu hỏi của nhiều người, trong đó có cả các nhà báo, rằng “Liệu vấn đề cồng chiêng Tây Nguyên có còn gì để nói không mà phải tổ chức hết hội thảo này đến liên hoan kia?”.

Đúng là “mảnh đất cồng chiêng Tây Nguyên nói chung đã được “cày xới” kỹ càng nhiều lần rồi”. Ấy vậy mà theo chúng tôi vẫn còn những khoảng trống cần “khai phá” tiếp, tập trung vào một số vấn đề sau đây:

1. Cần tiếp tục tìm hiểu kỹ về văn hoá - nghệ thuật cồng chiêng của tất cả các dân tộc. Bởi cồng chiêng ở mỗi nền văn hoá dân tộc có những vai trò, chức năng, tính cách, đặc điểm khác nhau. Trước đây, chúng ta đã biết về cồng chiêng ở một số dân tộc tiêu biểu như Ê đê, Giơ Rai, Bâhnar, Mơ Nông... Còn về cồng chiêng của các dân tộc khác thì hoặc chúng ta biết không đầy đủ, hoặc gần như chưa biết gì. Rất cần thiết có những chuyên khảo về văn hoá nghệ thuật cồng chiêng của từng dân tộc. Chẳng hạn, chúng ta mới biết ở người Bih, chiêng do nữ giới đánh, nhưng chúng ta chưa biết đầy đủ thông tin về các mặt khác của chiêng cồng ở dân tộc này. Ngay ở những dân tộc nơi chúng ta đã có hiểu biết nhiều thì thực ra có lẽ cũng là còn chưa đủ. Có nhiều dân tộc chúng ta chỉ mới nắm được thông tin về một nhóm địa phương nào đó, ví dụ như ta biết khá nhiều về Bâhnar Tơ Lô, trong lúc rất thiếu thông tin về Bâhnar Kon K’Deh hay Bâhnar B’Nâm. Chúng ta có thể biết nhiều về cồng chiêng của anh em Mơ Nông Noong trong lúc lại rất thiếu thông tin về anh em Mơ Nông Preh hay Gar...

2. Chúng ta biết rất rõ về thực trạng của văn hoá - nghệ thuật cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên, nhưng chúng ta lại chưa phân tích một cách đầy đủ và sát thực tế những nguyên nhân sinh ra những thực trạng đó. Xin lấy một ví dụ: Lâu nay ta thường phàn nàn rằng thanh niên không còn yêu thích cồng chiêng nữa. Thế nhưng tại sao lại xảy ra tình trạng này thì ta không biết và thường lớn tiếng phê phán thanh niên là “mất gốc”, là “vọng ngoại”, khiến cho thanh niên càng xa chúng ta hơn vì những phê phán có tính áp đặt đó. Liệu có khi nào chúng ta nghĩ rằng chính chúng ta mới là người có lỗi không? Rằng có một thời kỳ chúng ta xoá bỏ mê tín dị đoan mà theo đó chúng ta triệt tiêu luôn cả môi trường diễn xướng của cồng chiêng và vì thế thanh niên không còn có cơ hội để học và tập đánh chiêng không? Liệu chúng ta có còn nhớ rằng có một thời chúng ta khuyến khích thanh iên gò lại chiêng theo hàng âm thanh châu Âu, gọi là chiêng “cải tiến” (hay “cải lùi”). Để đánh nhạc mới cho nó “hiện đại”, để rồi khi quay lại không đánh được các bài chiêng dân tộc không? Phải chăng chúng ta đã quên mất câu tục ngữ “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà?”.

Trên tầm vĩ mô, chúng ta cũng chưa thấy hết những biến đổi to lớn của đời sống xã hội và tư tưởng trong mối quan hệ với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá - nghệ thuật của cồng chiêng. Có lẽ chúng ta cũng chưa nhận thức đầy đủ những thiếu sót của mình trong việc xử lý hài hoà mối quan hệ giữa hai quy luật ứng xử với di sản văn hoá là bảo tồn - phát huy và thừa kế - phát triển. Đổ tại cho cơ chế thị trường, cho sự “hư hỏng” của thanh niên, thậm chí, cho sự thay đổi tín ngưỡng thì quá dễ và cũng dễ phủi tay. Nhận ra thiếu sót của mình thì khó hơn nhiều, nhưng không làm thế thì sẽ không bao giờ chúng ta có được những giải pháp thiết thực.

3. Cần phải bình tĩnh và dũng cảm công nhận rằng trong điều kiện xã hội ngày nay, cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên đang mất đi cơ sở và môi trường xã hội mà từ đó và vì đó nó được sáng tạo, tồn tại và phát triển. Vậy số phận những bài chiêng gắn bó với các môi trường đó sẽ ra sao? Ngày xưa người Bâhnar Tơ Lô trồng lúa rẫy nên có một lễ cầu an cho lúa sau khi làm cỏ gọi là Smah Quai, khi thu hoạch thì có lễ ăn cốm gọi là Samơk. Trong cả hai lễ này, cồng chiêng đóng vai trò chủ đạo trong cuộc lễ và cho hàng múa Soang của các cô gái. Nay, đồng bào trồng cà phê, trồng hồ tiêu. Liệu có còn cần làm lễ Smah Quai, Samơk không? Vì các lễ đó là để thông qua với thần lúa Yang Sri - Yang Sna. Nay không biết cà phê và hồ tiêu có Yang không? Nếu có thì đó là Yang gì? Vả lại, lúa thì còn có lễ ăn cốm chứ cà phê và hồ tiêu thì làm gì có cốm mà ăn? Vậy những bài chiêng trong các lễ đó có còn tồn tại trở lại như các cái lễ đó. Thưa rằng chúng không biến mất theo các lễ đó vì ngay từ khi ra đời, chúng đã mang trong bản chất của mình tính đa nghĩa nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ đa chức năng. Tính đa nghĩa nằm chủ yếu ở hai chức năng chính là chức năng tâm linh xã hội và chức năng nghệ thuật. Khi chức năng xã hội tâm linh bị giảm thiểu hay mất đi thì còn lại chức năng nghệ thuật. Chính những hình tượng nghệ thuật đó cũng mô tả những cảm xúc của con người trước một hiện tượng xã hội nào đó. Do vậy, dù không tổ chức được lễ ăn trâu thì cái chất hào hùng của một Groong K’Pô vẫn được dòng nhạc chiêng cồng thể hiện. Như thế, nghệ thuật cồng chiêng chẳng những không mất đi mà còn tồn tại và trở thành một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá đương đại.

Tài liệu tham khảo

(*) Tít toà soạn đặt.

(1) Ty Văn hoá Thông tin Gia Lai - Kon Tum, Giữ gìn phát huy vốn văn hoá truyền thống của dân tộc. Kỷ yếu sưu tầm vốn văn nghệ dân gian các dân tộc Gia Lai - Kon Tum, tập I, Plây Ku, 1981.

(2) Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai - Kon Tum, Nghệ thuật cồng chiêng, Kỷ yếu liên hoan và hội thảo khoa học cồng chiêng, Plây Ku, 1986.

(3) Tô Ngọc Thanh, Hồ sơ Không gian văn hoá cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên, Bản tiếng Việt và bản tiếng Anh. Hà Nội 2004 - 2005.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.