Còn những khu nào?
TS Đỗ Minh Toàn, Chủ nhiệm khoa Địa chất, đại học Mỏ địa chất Hà Nội cho biết, có hai điều kiện để tạo thành yếu tố nguy cơ cao dễ gây sụt lún: nền địa chất và khai thác nước ngầm.
Về điều kiện địa chất, nơi dễ sụt lún phải là nơi có phân bố tầng đất yếu, dầy và than bùn. Hà Nội là vùng đất yếu, mới hình thành nên khả năng này là hiện hữu. Có thể kể ra các khu vực có nền đất yếu được xếp vào dạng nguy cơ lún cao là Ngọc Khánh, Giảng Võ (khu vực xung quanh khu nhà C6 Giảng Võ), Thành Công, Thanh Nhàn (gần bệnh viện Thanh Nhàn)…. Tuy nhiên, khó có thể đưa ra con số lún cụ thể, bởi tuỳ thuộc vào từng tải trọng công trình, các nhà khoa học mới có thể nói chính xác con số này.
Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do khai thác nước dưới đất. Do sự khai thác một cách bừa bãi và không tính toán cụ thể, người ta đã làm rỗng một khoảng trong lòng đất. Tất nhiên, khả năng chịu lực, chịu tải trọng của nền đất rỗng này là rất nhỏ. Qua khảo sát của các nhà khoa học thuộc Khoa Địa chất cũng như của Liên đoàn Địa chất Thuỷ văn, Địa chất công trình miền Bắc cho thấy, các nhà khoa học đều nhất quán về việc chỉ ra các địa điểm đất yếu do khai thác nước của Hà Nội trên bản đồ địa chất. Cụ thể: khu vực có tồn tại lớp đất yếu là Pháp Vân (22,16 mm/ năm), Ngô Sỹ Liên (31,52 mm/ năm), Hạ Đình (1,45 mm/ năm)… Khu vực ven sông Hồng có nền đất yếu ít hơn như Lương Yên (18,83 mm/ năm), Gia Lâm (10,33 mm/năm)… Khu vực được xem là nền đất “khoẻ” hơn cả là: Ngọc Hà, Mai Dịch, Đông Anh, Cổ Nhuế, Nghĩa Đô, Xuân Đình (trị số lún dưới 10 mm/ năm).
Cũng trong một báo cáo nghiên cứu do Sở Giao thông công chính Hà Nội phối hợp với Công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội và Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia Hà Nội), Đại học Xây dựng Hà Nội nghiên cứu, các nhà khoa học cảnh báo: Các phễu nước ngầm có khả năng hạ thấp xuống từ - 10 đến - 30 m trên diện tích 60 đến 160 km 2. Các phễu này có xu hướng phát triển về phía Tây và Tây Nam (tương ứng khu vực từ phía Pháp Vân - Tương Mai - Hạ Đình).
KS Lê Tứ Hải, Liên hiệp SXKH Địa chất và Nước khoáng cho biết: theo nghiên cứu của ông, khu vực và đánh giá có sự sụt lún và ô nhiễm từ năm 1992 bao trùm một khoảng rộng phía Nam Hà Nội, kéo dài từ Tây Mỗ, Mễ Trì qua Ngã Tư Sở, Tương Mai, Hoàng Văn thụ, Trần Phú, rồi kéo xuống phía Nam qua Pháp Vân, Hạ Đình, Tam Hiệp, Vĩnh Quỳnh… Điều đáng lo ngại là diện tích ô nhiễm có xu hướng ngày càng lan rộng.
Các số liệu trên cũng trùng với cảnh báo của PGS. TS Đỗ Minh Toàn về nguy cơ sụt lún cao của các khu đô thị như Việt Hưng, Mễ Trì, Mỹ Đình, Bán đảo Linh Đàm. Khu đô thị mới Nam Thăng Long có phần ít bị ảnh hưởng hơn.
Tuy nhiên, sự “đỏnh đảnh” của nền địa chất Hà Nội vẫn có cách trị bằng hướng xử lý nền móng. PGS Đỗ Minh Toàn cho biết, nếu biết tính toán, chuyện nền đất yếu, dễ sụt lún hoàn toàn không đáng lo ngại. Thế nhưng, làm sao có được số liệu khảo sát địa chất công trình đủ độ chính xác thì vấn đề trách nhiệm, trình độ người thực hiện cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến sự nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác khảo sát địa chất công trình.
Nguồn: KH&ĐS, số 93, 3 - 10 - 2007, tr 4









