Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 16/01/2008 16:19 (GMT+7)

Con đường tiếp cận di sản văn hóa

Di sản văn hoá là toàn bộ những sản phẩm vật chất (hay còn gọi là vật thể), có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, do con người sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hoá, kinh tế - xã hội của mình, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Ở một số nước như Nhật Bản chẳng hạn, những giá trị văn hoá truyền thống được quan niệm như là tài sản văn hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm sáng tạo của quá khứ, mà còn cả trong đời sống hiện tại, cũng có nghĩa là khái niệm “Tài sản văn hoá” mở rộng hơn về khung thời gian và cùng với nó là sản phẩm sáng tạo so với “di sản văn hoá”.

Cho dù UNESCO ban hành “Công ước bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên” và “Công ước bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể” thành hai văn bản riêng việt và cách xa nhau về mặt thời gian (năm 1972 và 2003), nhưng xu hướng chung hiện nay về nghiên cứu di sản văn hoá là tiếp cận tổng hoà di sản văn hoá vật thể và phi vật thể tạo thành một chỉnh thể để có cơ sở khoa học toàn diện và vững chắc cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá. Đương nhiên, di sản văn hoá, cũng như nhiều ngành khoa học xã hội khác, tính hệ thống trong nghiên cứu không nên khô cứng mà phải luôn luôn mở để có thể tìm kiếm được, hoặc điều chỉnh, thậm chí thay thế bằng những giải pháp hay hơn, hợp lý hơn.

Di sản văn hoá gắn liền với những thành tựu của sử học. Phương pháp hàng đầu trong nghiên cứu di sản văn hoá là phương pháp luận sử học. Những kết quả đạt được trong hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của chúng ta đều có công sức, trí tuệ của các nhà sử học. Tuy nhiên, giữa những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử và những cán bộ hoạt động trên lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa, đặc biệt là cần đổi mới thực sự phương pháp giảng dạy, hướng dẫn giới thiệu về lịch sử đất nước để có thể khắc phục hiện trạng đáng buồn không thể tưởng tượng được về kiến thức lịch sử trong giới trẻ học đường thể hiện trong các kỳ thi về lịch sử những năm vừa qua.

Hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá không chỉ được hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu và sự tham gia đóng góp trực tiếp của các nhà nghiên cứu về khoa học xã hội (sử học, khảo cổ học, dân tộc học, Hán Nôm, văn hoá dân gian, mỹ thuật, kiến trúc…) mà nhiều ngành khoa học tự nhiên (vật lý, hoá học, sinh học, địa chất, xây dựng…) cũng góp phần không nhỏ. Sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hoá không chỉ cần sự phối hợp liên ngành mà cả xuyên ngành nữa. Khai quật khảo cổ học, nhất là khai quật các dấu vết công trình kiến trúc, hay khai quật phục vụ cho công tác bảo tồn công trình kiến trúc cần phải dựa vào kế hoạch và phối hợp ngay từ đầu giữa các nhà khảo cổ và nhà bảo tồn để xây dựng phương án bảo tồn tại chỗ. Nếu chưa có phương án bảo tồn loại hình di tích này, thì thà chúng ta để cho lòng đất giữ nguyên trạng di tích còn hơn là khai quật lên rồi để đấy cho nước đọng, rêu phong.

Hình như, các nhà khoa học nước ta chưa quen với phương pháp làm việc theo nhóm liên ngành, ở đấy năng lực, tính chủ động của các nhà nghiên cứu chuyên ngành được phát huy tối đa vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra theo mục tiêu và yêu cầu chung. Chúng ta cũng chưa quen với kiểu tổ chức hội thảo “đầu bờ” như một số ngành khoa học tự nhiên mà ở đó các chuyên gia có thể thẳng thắn đánh giá, nhận xét trực tiếp; ủng hộ hoặc phản bác kết quả nghiên cứu của người khác. Thay vì tổ chức trao đổi hội thảo hẹp giữa những nhà nghiên cứu chuyên ngành, chúng ta thường tổ chức các cuộc hội thảo lớn, thành phần tham gia không có nhiều những nhà nghiên cứu chuyên môn sâu về chủ đề của hội thảo, nên có thể “vấn đề vĩ mô” thì được nhất trí cao nhưng “vấn đề vĩ mô” thì còn gác lại; đôi khi chúng ta cũng chưa sẵn sàng tiếp nhận những ý kiến trái chiều.

Trong những năm gần đây, chúng ta đã quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu không gian văn hoá, “vùng văn hoá”. “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. “Hồ sơ không gian văn hoá Quan họ Bắc Ninh” cũng đang được xây dựng để trình UESCO. Như vậy, chúng ta đã có những thành công và kinh nghiệm nhất định trong việc sử dụng những phương pháp nghiên cứu “vùng văn hoá” để nghiên cứu không gian văn hoá của di sản văn hoá. Di sản văn hoá (vật thể và phi vật thể) là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người được hình thành trong điều kiện lịch sử, trong không gian văn hoá - môi trường văn hoá - xã hội nhất định. Vì vậy, nghiên cứu di sản văn hoá mà không đặt nó trong môi trường sống thì chẳng khác nào đưa cá ra khỏi nước. Có những loại hình di sản không chỉ gắn kết với nhau tạo thành một hệ thống, một chỉnh thể. “Chiến khu Việt Bắc” là một ví dụ.

“Chiến khu Việt Bắc” là quần thể di tích quan trọng vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam, là Thủ đô khu giải phóng bao gồm 6 tỉnh Việt Bắc cũ (Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang) để Đảng và Nhà nước ta chỉ đạo Tổng khởi nghĩa tháng Tám, năm 1945; là nơi đặt bản doanh của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, toàn thể bộ máy của Đảng, Nhà nước, là nơi Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam quyết định những vấn đề quan trọng trong cuộc kháng chiến của dân tộc; là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị và quân sự quan trọng của đất nước trong trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Toàn bộ những di tích gắn kết với nhau thành một chỉnh thể. Vì vậy, hoạt động bảo tồn và phát huy di sản đặc biệt quan trọng này phải được xây dựng trên cơ sở một Đề án tổng thể, trong đó có vấn đề quy hoạch các di tích; các nhóm dự án bảo tồn di tích gốc; nghiên cứu bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể có liên quan; nhóm các dựa án về bảo vệ cảnh quan môi trường, giao thông và du lịch. Có như vậy mới xứng tầm và phù hợp với tính chất của một quần thể di tích gắn kết trong sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc ta ở thế kỷ XX.

Chung quanh khái niệm “di sản văn hoá” là một tập hợp các cặp phạm trù (Truyền thống - Hiện đại, Kế thừa - Phát triển, Bảo tồn - Phát triển…) tưởng là dễ chấp nhận, nhưng thực ra chưa mấy được thống nhất về nhận thức, lý luận và cả trong hoạt động thực tiễn.

Năm nào Hội Lim cũng có tiếng khen, chê; hát theo “kiểu các cụ” thì không có nhiều khán giả, nhất là giới trẻ, sân khấu hoá hát quan họ thì không phải ai cũng đồng tình! Kế thừa và phát triển cái gì, kế thừa và phát triển thế nào để không bị coi là “gieo vừng ra ngô?” Bảo tồn và phát triển là thống nhất hay đối lập? Một số dự án xây dựng phát triển kinh tế phải dừng lại để khai quật khảo cổ hoặc các dự án xây dựng có nguy cơ làm ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan của di tích… có phải là lý do để có dư luận cho rằng, hoạt động bảo tồn di tích đang làm ảnh hưởng đến phát triển? Thật ra bản chất không phải như vậy. Sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hoá là một tiến trình sống động nằm trong nhận thức về vai trò, vị trí của di sản văn hoá đối với phát triển trong hoạt động thực tiễn cuộc sống, kể cả quá trình kinh tế: Bảo tồn di sản văn hoá tốt hơn. Nhiều nước coi di sản văn hoá không những là cội rễ của bản sắc văn hoá, mà việc bảo tồn và phát huy nó là giải pháp để xây dựng bản sắc văn hoá của dân tộc, là công cụ tham gia vào toàn cầu hoá, là vốn liếng, là lợi thế có sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Ở Việt Nam cũng vậy thôi, trong nhận thức chắc ít người lại cho rằng, bảo tồn di sản và phát triển là hai mặt đối lập, nhưng khi đi vào hành động thực tiễn thì thấy vẫn còn một khoảng cách giữa nhận thức và hành động. Điều hạn chế là chúng ta chưa có cái nhìn toàn diện và căn bản, một tầm nhìn lâu dài và sự chủ động phối hợp liên ngành trong việc quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta thường đặt các nhà quản lý di sản văn hoá trước việc đã rồi. Bảo tồn di sản văn hoá là một hoạt động khoa học, đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu và sự phối hợp liên ngành, phải tuân thủ nguyên tắc cao nhất trong bản bảo tồn là giữ được tính nguyên gốc và tính chân xác, lịch sử của di sản gắn với những điều kiện lịch sử, văn hoá, kinh tế - xã hội cụ thể của từng thời kỳ lịch sử. Trên nguyên tắc đó, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng di sản để có những giải pháp bảo tồn thích hợp. Nghĩ đi nghĩ lại thì thấy “các cụ” đều giữ lại “cái cũ” của tiền nhân và cũng để lại dấu ấn của mình trên di tích, nhưng giữa “cái mới” của “các cụ” và “cái cũ” của người làm trước đó sao mà hài hoà thế, nhuần nhuyễn thế, không cảm thấy có gì khiên cưỡng, phản cảm cả. “Các cụ” đâu có dùng sơn hiện đại quét lên tượng Phật, đâu có lát gạch men hoa lá trên nền đình như một số nơi đã làm trong những năm gần đây.

Trong lý luận bảo tàng học hiện đại cũng như kinh nghiệm thực tế ở nhiều nước trên thế giới tồn tại nhiều hình thức bảo tồn đối với các di tích khảo cổ dưới dạng phế tích kiến trúc.:

- Bảo tồn nguyên trạng toàn bộ di tích làm bảo tàng tại chỗ.

- Giữ nguyên trạng một bộ phận di tích để bảo tồn dưới tầng hầm của công trình xây dựng hiện đại, nhưng vẫn có thể giới thiệu cho khách tham quan.

- Nếu chưa có điều kiện bảo tồn tại chỗ thì sau khi xây dựng hồ sơ tư liệu hoàn chỉnh và di tích được xử lý bằng các phương pháp khoa học - kỹ thuật thì di tích được lấp cát lại, khi có điều kiện thì khai quật trở lại để làm bảo tàng tại chỗ.

- Trường hợp không có điều kiện bảo tồn tại chỗ thì đưa các di vật được phát hiện về bảo tàng để bảo quản, phục vụ cho công tác nghiên cứu, trưng bày, phát huy giá trị của di tích.

Căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi di tích (giá trị, tình trạng bảo quản, địa điểm của di tích ở ngoại vi thành phố hay trong khu dân cư đông đúc…) mà lựa chọn hình thức bảo tồn cho phù hợp, xử lý hài hoà nhu cầu bảo tồn và phát triển.

Di sản văn hoá Việt Nam là sản phẩm sáng tạo của các thế hệ trong quá trình lịch sử của dân tộc, là sự kết tinh của mối quan hệ tổng hoà và tương tác giữa Môi trường - Con người - Văn hoá, là sự dung hợp giữa việc bảo tồn bản sắc riêng của mình với sự thích ứng và tiếp thu những giá trị của các văn hoá khác. Di sản văn hoá là cội nguồn cho những sáng tạo của các thế hệ hôm nay và mai sau. Tuy nhiên, di sản văn hoá vừa là vô hạn, vừa là hữu hạn. Là vô hạn khi ta nhìn di sản văn hoá như một tiềm năng mà chúng ta chưa khai thác và phát huy có hiệu quả; khi ta đặt lòng tin và tạo điều kiện cho những tài năng sáng tạo của thế hệ ngày nay trong việc tạo ra những sản phẩm văn hoá có giá trị cao để trở thành di sản trong tương lai. Là hữu hạn khi ta biết rằng di sản văn hoá là thứ tài sản không thể tái sinh, không thể thay thế, mất đi không thể bù đắp lại được; khi đặt nó trong môi trường khí hậu khắc nghiệt mưa nhiều nắng gắt; khi ta lo ngại trước thực trạng nhận thức yếu kém của một bộ phận dân chúng và cán bộ đối với việc thực hiện và bảo vệ di sản văn hóa theo quy định của pháp luật.

Việc bảo vệ di sản văn hoá của dân tộc và việc sáng tạo ra những sản phẩm đỉnh cao để trở thành di sản văn hoá trong tương lai, làm cho di sản văn hoá trở thành thành tố của quá trình “di truyền xã hội”, là trách nhiệm không chỉ của riêng ai.

Nguồn: Xưa & Nay, số 295, 11 - 2007, tr 4.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

VUSTA xây dựng đề án vị trí việc làm giai đoạn 2027–2031
Là hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đang tập trung triển khai việc rà soát vị trí việc làm (VTVL), xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031, nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN).
Tập huấn sử dụng hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày 5/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Hướng dẫn sử dụng phần mềm trong quản lý và điều hành tác nghiệp văn bản đi và đến. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác hiệu quả các chức năng của hệ thống số hóa, góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, điều hành và xử lý văn bản nghiệp vụ tại Cơ quan VUSTA.
Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.