Cỏ mực
Cỏ mọc hoang, nhất niên, cao 20 - 40 cm, có khi đến 80 cm, có lông trắng cứng, thưa. Thân màu lục hay nâu nhạt hay hơi đỏ tía. Lá mọc đối, phiến lá 2,5cm x 1,2cm. Mép lá nguyên hay có răng cưa cạn. Bế quả cụt đầu, có 3 cạnh màu đen, dài chừng 3 mm.
Theo kinh nghiệm cổ truyền, Cỏ mực đã được dùng rất phổ biến trong dân gian tại Ấn Độ, Pakistan, Việt Nam, Trung Hoa và các quốc gia vùng Nam Á. Dùng trị rụng tóc, nấm da, lác đồng tiền, nhuộm tóc và làm thuốc bổ gan, trị viêm lách, viêm gan vàng da và làm thuốc bổ tổng quát. Cây cũng được dùng trị ho, chảy máu cam, ăn khó tiêu, choáng váng, chữa đau răng, giúp lành vết thương. Rễ dùng gây nôn mửa, xổ. Lá giã nát đắp trị vết cắn do rít (rết), bò cạp hoặc trị nấm, trị suyễn. Cây giã nát, trộn với dầu mè được dùng để đắp vào nơi hạch viêm, trị bệnh ngoài da, chốc đầu, rôm sảy… Toàn cây sắc uống trị ho ra máu, tiểu ra máu, sốt xuất huyết (thêm Hoa hoè, Kim ngân hoa), trị viêm ruột, viêm gan, vàng da (thêm Diệp hạ châu đắng). Trị rong kinh, băng huyết, trĩ. Liều lượng 20 - 30g cây khô, sắc uống. Theo Đông y, Cỏ mực thu hái vào đầu mùa thu, có vị ngọt, chua, tính mát; tác dụng vào các kinh mạch thuộc Can, Thận.

- Dưỡng và Bổ Âm Can và Âm thận: dùng trị các chứng suy Âm Can và Âm thận với các triệu chứng choáng váng, mắt mờ, chóng mặt, tóc bạc sớm. Thường dùng phối hợp với Nữ trinh tử (Fructus Ligustri lucidi). 






