Có một thị trường gen Việt?
Gen made in Việt Nam
Giám đốc ĐHQGHN vừa mới ký quyết định phê duyệt điều chỉnh Dự án “Tiếp tục đầu tư cho bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật” - Viên Vi sinh vật và Công nghệ sinh học với mức giữ nguyên tổng kinh phí của dự án trên 6,5 tỷ đồng. Đây là một thông tin đáng mừng cho các nhà khoa học làm tại Viện bởi đã nhiều năm nay, họ nghiên cứu, tìm ra các loài gen mới chỉ bằng tình yêu khoa học. Thành quả của quá trình đó là Bảo tàng vi sinh vật ĐHQG Hà Nội (VTCC) đã đi vào hoạt động, cung cấp vật liệu di truyền cho mọi hoạt động khoa học công nghệ cả nước liên quan đến vi sinh vật.
Mọi chủng vi sinh vật được lưu giữ tại VTCC có nguồn gốc tên khoa học và các thông tin cụ thể (yêu cầu bảo quản, điều kiện nuôi cấy, đặc tính sinh học chủ yếu, giá trị, mục tiêu ứng dụng), người sử dụng có thể khai thác mà không cần đầu tư thời gian và kinh phí cho các thông tin này. VTCC là bảo tàng các chủng vi sinh vật sống với mọi thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là điều rất quan trọng cho mọi đối tượng khai thác. Khi có thông tin và chủng giống (hay vật liệu di truyền) trong tay, người sử dụng có thể khai thác mọi thông tin liên quan từ các tạp chí khoa học hay internet để định hướng nghiên cứu khai thác hiệu quả nhất.
TS Dương Văn Hợp, Viện trưởng Viện Vi sinh vật và công nghệ sinh học cho biết, VTCC đang lưu giữ 5800 chủng vi sinh vật các loại (nấm men, nấm sợi, vi khuẩn, xạ khuẩn và một số dòng tế bào, plasmid dùng cho nghiên cứu sinh học phân tử). Tuy vật, VTCC không bảo quản các chủng vi sinh vật và virus gây bệnh. Bảo tàng không trưng bày mẫu vật mà tiến hành các nghiên cứu khoa học nhằm khám phá các thông tin khoa học của vi sinh vật để cung cấp cho người sử dụng một cách chính xác và hiệu quả nhất.
Và những trăn trở
Đối với vi sinh vật, do đặc thù là kích thước nhỏ bé (một vài micromet) không thể nhìn và phân biệt bằng mắt thường mà muốn phát hiện và phân loại chúng phải dùng các cách tiếp cận gián tiếp như quan sát dưới kính hiển vi, kỹ thuật sinh học phân tử, tin sinh học, đặc tính sinh lý sinh hoá, miễn dịch của vi sinh vật... nên việc nghiên cứu còn hạn chế. Mọi kỹ thuật trên cần trang thiết bị, kỹ năng và kinh nghiệm của cán bộ nghiên cứu chuyên về phân loại học mà chúng ta chưa có một cơ sở nào trong nước đào tạo.
Có một điều khiến các nhà khoa học còn băn khoăn là những sản phẩm làm ra vẫn chưa được thị trường đón nhận. Có nhiều lý do như tâm lý người Việt Nam thích dùng hàng ngoại, việc xây dựng thương hiệu cho những nguồn gen tự sản xuất được còn hạn chế... nên cho đến nay cũng mới chỉ có một số cá nhân và tổ chức biết đến. Đây cũng là điều mà GS Nguyễn Lân Dũng, Tổng thư ký Hội Vi sinh vật học Việt Nam bức xúc: Đó là chất xám, là công sức của tập thể các nhà khoa học, nguồn gen ở đây không hề thua kém hàng nhập ngoại. Nhưng người cần đến nó thì vẫn cứ thờ ơ.
TS Dương Văn Hợp cho rằng đây cũng là vấn đề chung của các phòng thí nghiệm, phòng nghiên cứu ở Việt Nam . Bài toán thị trường cho các trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm đã đến lúc phải được quan tâm. Trong khi các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm... vẫn đang loay hoay đi tìm thông tin về những nguồn gen quý hiếm, phục vụ cho nghiên cứu và đưa vào thực tiễn sản xuất thì một trung tâm lưu giữ nhiều giống gen là rất cần thiết cho người làm khoa học.
Mọi thông tin liên quan đến nguồn gen, nhu cầu tư vấn chỉ dẫn, bạn đọc có thể tham khảo trên trang web http://www.biotechvnu.edu.vn. hoặc địa chỉ nhà E2, DHQG Hà Nội, 144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội. Điện thoại: 04. 7547695/04. 7547407. |
Nguồn: Khoa học và Đời sống, số 103 (2030), 26/10/2007, tr 6








