Cố đô Hoa Lư - dấu ấn Ngàn năm Thăng Long
Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An.
Nghĩa là:
Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hiệu Khai Bảo của nhà Tống (bên Tàu).
Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán.
![]() |
Đền vua Đinh được xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” (nghĩa là bên trong chữ công (I), bên ngoài chữ quốc, đường đi lối vào lát hình chữ Vương). Các công trình kiến trúc đăng đối theo trục đường chínhd dạo. Các tên gọi phỏng theo tên gọi của cung điện xưa. Ngoài cùng là Ngọ môn quan (cổng ngoài) quay hướng bắc, ở phía trong Ngọ môn có bốn chữ “Tiền triều phượng các” (cửa phương trước triều), ở phía ngoài có bốn chữ “Bắc mô n toả thược” (có nghĩa là khoá chặt cửa Bắc) (2). Vào phía trong, ở giữa là một sập long sàng bằng đá, hai bên có hai nghê chầu bằng đá xanh nguyên khối khá đẹp. Những hiện vật này tuy chạm khắc đơn giản, nhưng khối hình mộc mạc, chắc khoẻ gợi về lòng sùng kính đối với vua Đinh.
Đền có ba toà: Bái đường, Thiêu hương và Chính cung. Toà ngoài bái đường thờ công đồng. Đặc điểm kiến trúc của đền vua Đinh là được bao tường và cửa kín xung quanh, nên lòng khá tối; ánh sáng mờ ảo đã tạo nên một thâm cung, thêm sức linh thiêng cho thần, tạo cho các đồ thờ và nghi trượng như có một sức mạnh huyền bí.
Đền vua Đinh là công trình nghệ thuật đặc sắc trong quần thể lịch sử, văn hoá của cố đô Hoa Lư với hàng nghìn cổ vật quý hiếm đang được bảo tồn như gạch xây cung điện có khắc chữ Đại Việt quốc quân thành chuyên, cột kinh Phật có khắc chữ Phạn, các bài bia ký.
Về thăm đền vua Đinh và dự lễ hội Trường Yên, chúng ta sẽ được đắm hồn vào không khí linh thiêng và đầy màu sắc huyền thoại.
Từ Hoa Lư đến Thăng Long là cả một hành trình tất yếu của đất nước đang trên bước đường hình thành và phát triển, khẳng định nội lực của quốc gia độc lập, tự chủ ở thế kỷ 10. Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước và Lê Hoàn nối nghiệp xuất sắc sự nghiệp của vua Đinh để lại, đó là nền tảng vững chắc cho Lý Công Uẩn kế nghiệp tiền nhân ngay tại Hoa Lư, rồi từ đó mưu tính việc lớn cho muôn đời con cháu, dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mùa thu năm Canh Tuất – 1010.
Người Thăng Long – Hà Nội luôn nhắc nhở nhau nhớ về cố đô Hoa Lư để tỏ lòng biết ơn Tiên đế.
Và bây giờ, khi ta đi trên những con đường thân quen của Hà Nội như Cầu Đông, Cầu Dền, ngã ba Bồ Đề, Cống Chẹm, Tràng Tiền, Tràng An… hoặc ngắm chùa Nhất trụ (Một cột), tháp Bảo Thiên… lại nhớ về cố đô Hoa Lư, vì chính những địa danh này có hơn 1000 năm nay tại cố đô ngày nào. Phải chăng đây là những dấu ấn của Ngàn năm Thăng Long yêu dấu mà mỗi chúng ta không thể nào quên.









