Cơ chế phát triển sạch bảo vệ môi trường vẫn thu lợi nhuận cao
Ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường
Ông Nguyễn Mộng Cường - Trung tâm Nghiên cứu biến đổi khí hậu và phát triển bền vững cho biết sẽ có một số lĩnh vực được tập trung ưu tiên áp dụng công nghệ giảm phát thải XNK như: Công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất điện và năng lượng, sinh hoạt và dịch vụ, giao thông vận tải, lâm nghiệp, tài nguyên nước và quản lý vùng ven bờ… Rieng sản xuất điện và năng lượng được coi là lĩnh vực tiềm năng giảm nhẹ phát thải KNK đã ưu tiên ứng dụng 16 công nghệ như cung cấp nhiệt từ năng lượng mặt trời, thủy điện quy mô nhỏ, sản xuất điện từ đốt rác thải, điện từ khí mêtan trong bãi rác, thu hồi khí đồng hành từ khai thác dầu, công nghệ đồng phát điện. Giao thông vận tải cũng là một trong những lĩnh vực tiềm năng với 5 công nghệ cho áp dụng tiêu chuẩn khí thải về phương tiện cơ giới đường bộ, hệ thống giao thông công cộng bánh sắt ở các đô thị lớn, xe buýt, thay đổi phương thức vận chuyển, xây dựng trạm đăng kiểm.
Hiện tại, một số công nghệ được triển khai giảm phát thải KNK trong một số lĩnh vực đã có những hiệu quả rõ rệt. Công nghệ nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng ở Nhà máy bia Thanh Hoá, công nghệ thu hồi khí đốt đồng hành mỏ Rạng Đông, công nghệ thu hồi nihệt dư ở nhà máy Xi măng Hà Tiên II… được quốc tế đánh giá cao và coi là một trong những dự án thử nghiệm cho dạng cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam.
Nếu như trước đây, nhiệt dư trong quá trình sản xuất của các nhà máy được thải trực tiếp ra môi trường thì nay với việc áp dụng công nghệ thu hồi lại đã tái sử dụng chạy máy phát điện phục vụ nhu cầu sử dụng điện tại chỗ. Ông Nguyễn Khắc Hiếu - Phó Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế (Bộ TN&MT) cho biết trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục triển khai áp dụng các công nghệ chuyển đổi sử dụng các loại nhiên liệu ít gây ra phát thải hoặc lượng phát thải thấp hơn như: chuyển đổi sử dụng xăng sang khí; từ than sang dầu…Nếu các công nghệ này được triển khai áp dụng để giảm phát thải thì sẽ mang lại nhiều lợi ích tích cực cho bảo vệ môi trường, giảm tiêu hao năng lượng cho một đơn vị sản phẩm. Đây là một trong những chủ trương của Nhà nước trong việc bảo tồn và tiết kiệm sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng dư thừa.
Cùng với việc áp dụng những công nghệ giảm phát thải KNK, Việt Nam đang nghiên cứu và lựa chọn công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp. Trước tình hình biến động của thời tiết, khí hậu, Việt Nam cần có những công nghệ thích hợp áp dụng cho cây trồng, vật nuôi có khả năng chịu được khô hạn, thời tiết khắc nghiệt, tránh các hiện tượng thời tiết bất thường, phòng chống cháy rừng…
Thương mại hoá các dự án CDM
Triển khai thực hiện các dự án CDM không chỉ bảo vệ môi trường mà còn tạo nguồn thu không nhỏ về tài chính. Các dự án CDM giảm phát thải KNK được công nhận và cấp chứng chỉ sẽ có thể trao đổi, mua bán thương mại trên thị trường như một sản phẩm hàng hóa với giá trị thu được khoảng 250 triệu USD. Theo ông Hiếu, con số này có thể sẽ dao động bởi Việt Nam được đánh giá là một nước có tiềm năng lớn triển khai dự án CDM. Trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng năng lượng chưa có hiệu quả, việc ứng dụng năng lượng tái tạo chưa thực sự được quan tâm. Nhưng khi các nhà đầu tư đưa vào áp dụng các công nghệ hiện đại thì lượng chứng chỉ giảm phát thải được chứng nhận qua các dự án CDM ở Việt Nam sẽ tăng lên. Riêng dự án thu hồi khí đốt đồng hành mỏ Rạng Đông đã thu được khoảng 6,7 triệu tấn CO 2tương đương. Sau khi được kiểm định và chứng nhận, chứng chỉ này sẽ chia sẻ với các nhà đầu tư công nghệ và Việt Nam qua các biên bản thoả thuận quốc tế về mua bán quyền phát thải. Với giá thành trung bình trên thế giới từ 8-10 USD/tấn CO 2, lợi nhuận mà mỏ Rạng Đông thu được từ "khí thải" là không nhỏ.
Việc lập chương trình nghiên cứu, tính toán phát thải trong giai đoạn từ năm 2010-2020 ở Việt Nam đã được tập trung chủ yếu vào khí CO 2, CH 4, NO 2. Quá trình dự toán theo phương thức "từ dưới lên", tổng hợp các thành phần từ các lĩnh vực phát thải chính là năng lượng, công nghiệp và giao thông, rừng và nông nghiệp. Dự kiến tổng lượng phát thải KNK vào năm 2010 sẽ khoảng 150 triệu tấn CO 2, và đến năm 2020 sẽ lên khoảng 270 triệu tấn, trong đó ngành năng lượng sẽ trở thành lĩnh vực có tiềm năng nhất về giảm KNK. Theo tính toán, ở giai đoạn 2001 - 2010, lĩnh vực năng lượng sẽ giảm KNK khoảng 80 - 120 triệu tấn CO 2.
Cần cơ chế tài chính rõ ràng với dự án CDM
Bên cạnh những lợi ích kinh tế trực tiếp, chúng ta sẽ thu được hàng loạt những lợi ích khác liên quan tới CDM, trong đó quan trọng nhất là việc chuyển giao các công nghệ xử lý môi trường cho các lĩnh vực được chọn lọc. Thông thường các dự án dùng vốn ODA ở nước ta chỉ được tài trợ cho một số dự án tiêu biểu. Cơ chế CDM sẽ bổ sung cho nguồn ODA bằng cách đưa cơ chế thị trường vào đầu tư. Do đó sẽ thúc đẩy quá trình phát triển thị trường công nghệ mới và triển khai rộng hơn những công nghệ có được từ ODA.
Thực chất của các dự án CDM là các nước phát triển bỏ kinh phí đầu tư công nghệ vào một nhà máy, xí nghiệp, đơn vị sản xuất… ở các nước đang phát triển. Đổi lại, các nước này sẽ thu được chứng chỉ CER để thực hiện tuân thủ các cam kết giảm phát thải KNK định lượng trong Công ước Khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto mà các nước tham gia cam kết thực hiện. Phía các nước đang phát triển như Việt Nam sẽ thu được lợi từ việc tiếp cận các công nghệ thân thiện với môi trường mà không phải bỏ vốn đầu tư, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, năng lượng; góp phần vào việc bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội bền vững và thực hiện mục tiêu chung của công ước khung nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển.
Tuy nhiên, ngay trước khi dự án được triển khai trong các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, Việt Nam đã có khuyến cáo với các nhà đầu tư và các bên tham gia dự án cần có những thoả thuận văn bản trước. Có nghĩa là các Chứng chỉ CER không chỉ thuộc 100% về nhà đầu tư nước ngoài hưởng lợi mà bản thân nước chủ nhà tham gia cũng có đóng góp cơ sở hạ tầng, vật chất, con người, năng lực… Theo ông Hiếu, đây là vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các dự án CDM cần phải được nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng. Đặc biệt, với các dự án đầu tư công nghệ trước khi Công ước khung và Nghị định thư có hiệu lực ở Việt Nam . Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng các cơ chế tài chính cụ thể về vấn đề này cho các dự án đầu tư CDM.








