Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Chủ nhật, 20/11/2005 22:48 (GMT+7)

Chu Văn An (1292 - 1370) – Nhà giáo dục đầu tiên của Việt Nam

Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc. Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong. (Cuối Trần đó là thời nào, ngâm vịnh rong chơi đâu phải thú vui hiền giả. Non Phượng còn dấu nơi ẩn, núi sông mãi mãi ngắm nhìn phong cách triết nhân). Đó là đôi câu đối mà người đời mãi mãi còn truyền tụng để tỏ lòng mến phục đối với Chu Văn An - nhà Nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối thời Trần.


Chu Văn An (còn gọi là Chu Văn), tên hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, người làng Văn, xã Quang Liệt, nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì - Hà Nội. Theo thần tích đình làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm thành hoàng, thì ông sinh năm Nhâm Thìn (1292) và mất năm Canh Tuất (1370).


Chu Văn An ngay từ hồi còn trẻ đã nổi tiếng là một người cương trực, sửa mình trong sạch, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách. Khi thi đỗ Thái học sinh, ông không ra làm quan, mà trở về mở trường dạy học ở quê nhà. Học trò nhiều nơi tìm đến theo học rất đông. Trong số môn đệ ông có nhiều người thành đạt, thi đỗ ra làm quan to trong triều như Tể tướng Phạm Sư Mạnh, Thượng thư Lê Bá Quát khi về thăm thầy vẫn giữ lễ, được thầy nói chuyện ít lời thì rất lấy làm mừng. Có những học trò cũ không tốt, ông thẳng thắn quở trách, thậm chí quát mắng không cho gặp. Tính nghiêm nghị, tư cách thanh cao và học vấn sâu rộng làm cho tiếng tăm ông ngày càng lan xa. Đức độ và uy tín của ông như vậy, khiến cho học trò đến theo học càng nhiều và có đủ các loại.


Một huyền thoại vẫn được lưu truyền nói về ngôi trường và nhân cách, đạo đức của ông như sau: "Tương truyền khi ChuVăn An mở trường dạy học ở quê nhà, có nhiều học trò tìm đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu. Ông bèn cho người dò xem thì cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn hình vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ, Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học trò kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: "Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho". Sau đó người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn còn dấu vết mộ thần. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học quê hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, v.v... Trong đền thờ thần còn đôi câu đối khá tiêu biểu ghi lại sự tích này.


Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận.

Chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô.

(Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải.


Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa).

(Chu đình có hai nghĩa: sân son và sân họ Chu, chỉ Chu Văn An).


Câu chuyện trên đây chỉ là một giai thoại về Chu Văn An để nói rằng tài đức của họ Chu có sức mạnh cảm hóa được cả quỷ thần. Tuy nhiên, qua đó cũng thấy được đức độ của ChuVăn An lúc đương thời là rất lớn.


Đến đời vua Trần Minh Tông (1300 – 1357), ông được mời vào làm Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám để dạy Thái tử học. Ông đã cùng với Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn tham gia vào công việc củng cố triều đình lúc đó đang đi dần vào con đường khủng hoảng, suy thoái. Đến đời Dụ Tông (1336-1369), chính sự càng thối nát, bọn gian thần nổi lên khắp nơi. Chu Văn An nhiều lần can ngăn Dụ Tông không được, bèn dâng sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần, đều là người quyền thế được vua yêu. Đó là Thất trảm sớ nổi tiếng trong lịch sử. Nhà vua không nghe, ông bèn "treo mũ ở cửa Huyền Vũ" rồi bỏ quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng thuộc làng Kiệt Đắc, huyện Chí Linh (Hải Hưng) lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi).


Sau đó, Dương Nhật Lễ cướp ngôi nhà Trần. Hoàng tử Phủ con Trần Minh Tông đánh tan được bọn Nhật Lễ, lên ngôi (Nghệ Tông). Chu Văn An từ Chí Linh chống gậy ra mừng vua. Trần Nghệ Tông (1320 - 1394) muốn mời ông ra tham dự việc triều chính nhưng ông từ chối. Bà hiến Từ hoàng thái hậu đã nói một câu chí lí: "Người ấy là bậc cao sĩ, thanh thiết, nhà vua không thể bắt làm bầy tôi được đâu...". Vua thưởng cho mũ áo, ông nhận và lạy tạ nhưng đem về cho người khác. Ông vui sống với học trò ở núi Phượng Hoàng, rồi mất vào khoảng cuối tháng 11-1370, thọ 78 tuổi (theo Đại Việt sử ký toàn thư).


Theo thư tịch cũ thì ChuVăn An viết nhiều sách, ông đã để lại cho đời sau những tác phẩm: Quốc ngữ thi tậpbằng chữ Nôm và Tiều ẩn thi tậpbằng chữ Hán. Ông còn viết một cuốn sách biện luận giản ước về Tứ thư nhan đề Tứ thư thuyết ước.
Theo tên sách ta có thể biết đây là tập giáo trình đầu tiên bàn về bốn quyển sách qui định trong chương trình giảng dạy: Đạ học, Trung Dung, Luật Ngữ và Mạnh Tử. Tiếc thay tập giáo trình này đã bị nhà Minh lấy mất. Nếu còn bộ sách, chúng ta sẽ hiểu cụ thể quan điểm của ông.


Chu Văn An là người chủ xướng 4 quan điểm sau:

Cùng lý: bàn cãi cho biết lý lẽ của sự vật.

Chính tâm: luôn luôn giữ lòng mình cho chính, không làm điều gì trái với lương tâm.
Tịch tà: chống lại tà thuyết, những điều nhảm nhí.

Cự bí: đấu tranh vượt mọi khó khăn, chống lại những sự việc làm hại đến nhân tâm. 

Ở bốn quan điểm này, chúng ta thấy ChuVăn An quan tâm đầy đủ cả hai mặt trí dục và đức dục, học và hành.


Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây thì Chu Văn An còn là một nhà đông y đã biên soạn quyển Y học yếu giải tập chu di biêngồm những lý luận cơ bản về chữa trị bệnh bằng Đông y. Khi ông mất, vua Trần đã dành cho ông một vinh dự lớn bậc nhất đối với một trí thức là được thờ ở Văn Miếu. Vua còn ban tặng tên thụy cho ông là Văn Trinh. Ngô Thế Vinh, nhà văn học nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phượng Sơn đã giải thích nghĩa hai chữ "Văn Trinh" như sau: (Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chỉ chính cổ dã. Văn là sự bên ngoài (thuần nhất) của đức; Trinh là tính chính trực, kiên định của đức). Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định.


Chu Văn An là một nhà giáo tài đức trọn vẹn, có đóng góp to lớn với đất nước và đạo học. Trong lịch sử giáo dục nước nhà, ông đã giành được địa vị cao quí bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời như Phan Huy Chú đã ngợi ca ông: "Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng. Làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được".


Nguồn: Giáo Dục và Thời Đại 20/11/1998

Xem Thêm

Tin mới

Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.
VUSTA tổ chức gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 4/2, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức buổi gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Đây là hoạt động thường niên của VUSTA nhằm bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với các thế hệ đi trước - những người đã có những cống hiến tâm huyết cho sự lớn mạnh của “ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam”.