Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 17/09/2009 20:52 (GMT+7)

Chữ trên gốm Lái Thiêu

1. Niên đại(năm sản xuất):

Có hai cách ghi niên đại là cách ghi bằng chữ và cách ghi bằng số.

Cách ghi niên đại bằng chữ chủ yếu là chữ Hán, một ít chữ Việt, thường được viết dọc, rất ít viết ngang. Trong đó niên đại phần lớn được ghi theo năm can chi (Âm lịch) như: “Kỷ niệm Quí Tỵ niên ngũ nguyệt” (Kỷ niệm tháng 5 năm 1953); “Thời tại Nhâm Ngọ tác” (chế tác vào năm 1942) hay “Xuân Ất Mùi cung chúc tân xuân” (Chúc mừng năm mới – năm 1955). Cách ghi niên đại theo năm can chi thường kết hợp nội dung với tên lò sản xuất.

Cách ghi niên đại bằng số: Đây là cách ghi niên đại theo năm dương lịch, cách ghi này chiếm số lượng không nhiều, trong đó có cách ghi bằng số Ả Rập như 1939, 1959, 1961… Đây là cách ghi thường được áp dụng trên các sản phẩm gốm phương Tây. Ngoài ra, trên gốm Lái Thiêu còn có cách ghi bằng số Trung Quốc như: Tây nhất cửu lục nhất niên lục nguyệt tác (làm vào tháng 6 năm 1961 Tây lịch).

Trong tiến trình lịch sử gốm Việt Nam , việc ghi niên đại trên đồ gốm đã được ghi nhận từ khoảng thế kỷ V – VI (1). Sau đó xuất hiện khá nhiều vào thời Lê – Mạc và ngày càng được định hình cho đến ngày nay. Nhưng việc ghi niên đại trên đồ gốm ở giai đoạn đầu chủ yếu dưới dạng chữ viết, thường là chữ Hán, được ghi dưới dạng niên hiệu hay đế hiệu như “Vĩnh Thịnh niên chế” (chế tạo vào năm Vĩnh Thịnh 1705 – 1719) hoặc ghi niên hiệu năm can chi “Cảnh Trị cửu niên tuế thứ Tân Hợi” (được chế tác vào năm 1671) (2)hay chỉ ghi năm can chi như “Bính Thìn niên” (năm Bính Thìn).

2. Tên lò hay tên người chế tác:

Cách viết này phổ biến trên hầu hết sản phẩm, trong đó tên lò chiếm số lượng nhiều nhất. Cách thức để viết: tên lò cộng thêm chữ “xuất phẩm” (làm ra sản phẩm), hay tên lò cộng thêm chữ “tạo” (chế tạo) hay chữ “tác” (chế tác), một số ít được ghi tên lò cộng thêm chữ “gia” (nhà, tiệm”, chữ “xưởng” (nơi sản xuất) hoặc chữ “ký” (tiệm). Về tên lò một số lò tiêu biểu được ghi như: Vinh Phát xuất phẩm; Đào Xương xuất phẩm, Thái Xương Hòa xuất phẩm; Duyệt An xuất phẩm; Quảng Hòa Xương Diêu xuất phẩm… Nhân Hòa tạo, Hưng Luân Thái tạo, Phước Hiệp Hưng tác… Thái Phát đào xưởng… Hưng Long gia… Ngọc ký, Hưng Hiệp Nguyên ký… Trong đó lò Đào Xương và lò Vinh Phát sản phẩm đa dạng, phong phú chủ yếu là đồ gia dụng như tô, chén, đĩa, bình, khay trà, gối, hũ… màu sắc tươi sáng, hình vẽ uyển chuyển, sống động thường do những thợ gốm có tay nghề cao đảm trách. Đặc biệt hai ông Ngô Vinh Phát và Lâm Đào Xương vừa là chủ lò đồng thời là nghệ nhân chế tác vì thế trên sản phẩm gốm của hai lò này có ghi tên họ chủ lò như “Ngô Vĩnh Phát tác” (Ngô Vĩnh Phát chế tác); “Lâm Đào Xương tác” (Lâm Đào Xương chế tác).

Tên người chế tác được ghi trên sản phẩm rất ít. Đối với các sản phẩm gốm thương mại thì tên người chế tác hầu như không được ghi, chủ yếu là ghi tên lò sản xuất. Vì thế đối với các sản phẩm gốm Lái Thiêu có ghi tên người chế tác thường là những món đồ do nghệ nhân chế tác riêng hoặc vẽ chơi được lưu giữ kỷ niệm hay làm tặng phẩm. Người nghệ nhân chế tác rất đặc biệt vì thế những hiện vật này có chất lượng cao, tạo dáng cân đối, màu men tương sáng, hoa văn trang trí sinh động. Đơn cử trong sưu tập Nguyễn Anh Kiệt, có một chiếc bình gốm men xanh trắng, cao 13cm, đường kính miệng 3cm tạo dáng cân đối, hoa văn chính được trang trí ở phần thân, cảnh đôi chim đậu trên cành cúc, hoa cúc mãn khai, hoa to tách bạch từng cách rõ ràng, xung quanh tô điểm thêm vài chiếc lá, bức tranh thêm cân đối với bốn dòng chữ Hán phía sau được viết theo lối chữ thảo, chữ viết nhanh, dứt khoát.

“Duy hữu hoàng hoa vãn tiết hương” (chỉ có hoa vàng hương tiết muộn) (Ngô Tùng)

Thời tại Bính Tuất hạ ư Việt Nam ”.

(Chiếc bình trên được nghệ nhân Ngô Tùng* chế tác vào mùa hạ năm 1946 tại Việt Nam).

Minh văn có tên tác giả chế tạo trên gốm Lái Thiêu không phải là trường hợp cá biệt, hiện tượng này đã thấy xuất hiện vào thế kỷ XV trên chiếc bình gốm Chu Đậu dáng củ tỏi men xanh trắng vẽhoa mẫu đơn hiện đang lưu tại Bảo tàng Topkapi Saray – Istambul – Thổ Nhĩ Kỳ, trên thân có dòng chữ Hán “Thái Hòa bát biên Nam Sách Châu tượng nhân Bùi Thị húy bút” (3) (Thái Hòa năm thứ tám 1450 –nghệ nhân Bùi Thị ở Châu Nam Sách vẽ chơi), đặc biệt vào thế kỷ XVI – XVII tác giả Đặng Huyền Thông ở Chu Đậu và tác giả Đỗ Xuân Vi ở Bát Tràng đã chế tạo ra nhiều hiện vật gốm khá độc đáo hiện cònđược lưu giữ ở một số bảo tàng và sưu tập tư nhân trong và ngoài nước.

3. Tên người đặt hàng hay tên địa danh:

Tên người đặt hàng không chỉ là tên cá nhân mà có thể là tên cửa hàng, tên hiệu buôn hay tên đình, chùa, miếu mà người đặt hàng muốn dâng cúng. Các sản phẩm có ghi tên người, cửa hàng hay hiệu buôn chủ yếu là các loại đồ gia dụng như ấm trà, chung trà, bình, ca, ống cắm đũa… chữ viết có chữ Việt và chữ Hán. Trên một chiếc ca gốm men nhiều màu vẽ hoa có ghi tên “Nguyễn Thị Cúc” bằng chữ Việt; “Trương Ký thực điếm” “tiệm cơm Trương Ký) được viết bằng chữ Hán màu xanh lam trên chung trà men trắng; hay trên một ấm trà men xanh trắng vẽ hoa cúc có ghi hàng chữ Hán “Hiệp Hưng trà thất” (tiệm trà Hiệp Hưng). Đặc biệt trên bát nhang men da lươn đang lưu giữ tại Bảo tàng TP. Hồ Chí Minh cao 18cm, đường kính 26cm hai vai đắp nổi hổ phù, trên thân đắp nổi 25 chữ Hán màu xanh chia 5 hàng, 3 hàng ngang ở giữa, 2 hàng dọc 2 bên âm đọc

Tín

Từ hàng phổ

Độ Nhâm

Nữ

Na Tiếu

Thìn

Ngô

Quảng Hòa Xương điêu tạo

Niên

Thị

Tứ

Cải

Nguyệt

Tống

Nhất

Nhật

(Lái Thiêu – lò gốm Quảng Hòa Xương chế tạo vào ngày 01 tháng 04 năm 1952, do tín nữ Ngô Thị Cải dâng tặng).

Minh văn tên người đặt hàng không chỉ được ghi trên gốm Lái Thiêu mà còn thấy trên một số sản phẩm gốm Sài Gòn như trên chiếc chậu men nhiều màu, thân đắp nổi 4 chữ Hán “Thái Hồ tửu lâu” (quán rượu Thái ồ) đang được lưu giữ tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh.

Tên địa danh là tên vùng đất, thường được ghi dưới dạng tên hành chính từ cấp thôn, xã, huyện, thị xã, tỉnh. Tên địa danh rất ít khi viết đơn lẻ, mà luôn viết kèm với tên lò như: “Na Tiếu Quảng Hòa Xương diêu xuất phẩm (Lái Thiêu – lò gốm Quảng Hòa Xương sản xuất) chữ được đắp nổi ở đế tượng Trương Quả Lão trong bộ sưu tập tượng gốm ở Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, hay trên chiếc chậu men nhiều màu của nhà sưu tập Nguyễn Văn Toản có dòng chữ “Na Tiếu – Hứa Xuân ký – Ngô Vinh Phát tặng” (Lái Thiêu – Ngô Vinh Phát tặng tiệm Hứa Xuân). Đặc biệt trên hai hiện vật trên tên “Na Tiếu” được viết bằng chữ Nôm các chữ còn lại được viết bằng chữ Hán. Minh văn tên địa danh trên gốm Lái Thiêu có nhiều nét tương đồng với gốm Sài Gòn, như một số quần thể tiểu tượng gốm Sài Gòn trên các Miếu người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh có đắp nổi minh văn bằng chữ Hán “Đề Ngạn – Bửu Nguyên diêu tạo” (Chợ Lớn – lò gốm Bửu Nguyên tạo).

Ngoài ra loại minh văn này còn thấy trên một số hiện vật gốm Bát Tràng và ChuĐậu thế kỷ XVI – XVII.

4. Chức năng hay công dụng:

Đối với các sản phẩm có ghi chức năng hay công dụng đa phần được sản xuất theo đơn đặt hàng, thông thường là các loại đồ đựng nước tương, giấm (đỏ) chua, đường, trần bì…

Cách ghi chức năng công dụng trên gốm Lái Thiêu cũng thấy trên gốm Sài Gòn, có thể thấy sản phẩm đặc trưng nhất của gốm Sài Gòn là các vỏ có vòi dùng đựng rượu thuốc như “phong thấp dược tửu” (rượu thuốc trị phong thấp), “lượng bổ dược tửu” (rượu thuốc bổ)… (4) được chế tác một cách khá cầu kỳ, mang yếu tố trang trí nhiều hơn là công năng sử dụng.

5. Lời chúc tốt lành:

Đây là các chữ hay câu với ngụ ý tốt đẹp, thường là chữ Hán, được đề viết dưới men ngay vị trí trang trọng nhất của món đồ như lòng chậu rửa mặt, trên thân bình, trên nắp… với ý nguyện cầuchúc phúc, chúc may mắn trong cuộc sống hay những lời ngụ ngôn, thành ngữ. Về chữ thấy có chữ đơn như “Thọ”, “Phúc”, “Cát” trong đó chữ Thọ được viết với nhiều lối khác nhau, nhiều nhất là viết theolối chữ triệu và chữ chân phương; Chữ kép có chữ “Cát Tường”, “Phú Quý”; loại 3 chữ có “Phúc Lộc Thọ”. Nhiều chữ hơn về nội dung có loại đề 4 chữ như “Bách niên tử thiên tôn” (Trăm con ngàn cháu),“Cát tường thọ lão” (sống lâu may mắn), “Duyên niên ích thọ” (sống lâu), “Phúc tường thọ lão” (sống lâu may mắn)… Lời chúc cát tường thường sử dụng nội dung kết hợp tên lò hay niên đại, như trên khaytrà men nhiều màu vẽ bướm và hoa của nhà sưu tập Nguyễn Anh Kiệt có ghi dòng chữ Hán “Hoa khai phú quý” (hoa nở giàu sang) và hàng chữ số ghi năm chế tạo “Tây nhất cửu lục nhất niên lục nguyệt tác”(năm 1961 Tây lịch).

Chữ viết trên gốm là một dạng văn tự đốc đáo, dựa vào đó có thể hiểu được đời sống kinh tế, văn hóa cũng như nhu cầu thực tế của xã hội đương thời. Đối với các nhà nghiên cứu gốm, chữ viết là một chi tiết hết sức quan trọng trong việc giám định đồ gốm. Nội dung, thể chữ, cách thức, kỹ thuật để viết trên món đồ mang đặc trưng của từng thời kỳ rõ ràng. Có thể so sánh, đối chiếu chữ viết với hoa văn trang trí, hình dáng, màu men để xác định niên đại một cách chính xác cũng như sự phân biệt thật giả. Vì thế nghiên cứu chữ viết trên gốm Lái Thiêu cũng không ngoài mục đích đó.

_________________

(*) Ngô Tùng (sinh năm 1914) là người Hoa gốc Triều Châu sang Việt Nam năm 1934, lúc đầu đi vẽ “chầu” cho một số lò gốm ở Chợ Lớn, trong đó có lò Nam Phong (hiện vật giai đoạn này do ông chế tác còn lưu lại cho đến nay có một số hộp phấn nhỏ men nhiều màu, đường kính miệng từ 9 – 11cm, hoa văn trang trí theo đề tài hoa điểu như Tùng – Hạc, Tùng – Ưng, Hồng – Sáo, trong lòng có ghi tên, niên đại bằng chữ Hán “Ngô Tùng – Kỷ Mão niên tác – Ư Việt Nam” (Ngô Tùng chế tác vào năm 1939 tại Việt Nam). Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp năm 1945, Ngô Tùng về Lái Thiêu vẽ cho một số lò trong đó có lò Duyệt An. Những hiện vật do ông chế tác đa phần rất tinh xảo, nét vẽ điêu luyện, chữ viết nhanh, đẹp mang nhiều yếu tố của thư pháp, xứng đáng xếp vào những tác phẩm nghệ thuật. Ông mất năm 1984, thọ 70 tuổi. Ngô Tùng là một nghệ nhân chế tác gốm tài hoa, tác phẩm gốm của ông còn lại không nhiều, nhưng được người đời trân trọng và lưu giữ.

(1). Hà Văn Tấn (2002), Chữ trên đá – chữ trên đồng minh văn và lịch sử, Nxb, Khoa học Xã hội, tr. 64.

(2). Phan Huy Lê – Nguyễn Đình Chiến – Nguyễn Quang Ngọc (1995), Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV – XIX, Nxb. Thế giới, tr. 176.

(3). Tăng Bá Hoành và nnk (1999). Gốm Chu Đậu, Kinh Books, tr. 18.

(4) Hoàng Anh Tuấn – Trần Ngọc Hà (2000). Quanh những vò rượu trong sưu tập gốm Sài Gòn ở Bảo tàng Tp. Hồ Chí Minh, trong Những phát hiện mới về khảo cổ họcnăm 1999, Nxb Khoa học Xã hội, tr. 601 – 602.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.